Tag Archives: máy thổi khí nuôi cá

Nuôi tôm bằng vi sinh tiết kiệm mà hiệu quả

Vậy sự lựa chọn men vi sinh nào là thích hợp? Theo thành phần hoặc theo hàm lượng, uy tín của nhà sản xuất, liều dùng mỗi lần và chi phí cả vụ, giá cả và dịch vụ tư vấn, qua kinh nghiệm truyền nhau, sản phẩm sản xuất trong nước hay là nhập khẩu? Câu trả lời sẽ là tất cả những quan tâm trên đây. tag: máy sục khí

Giữa vô số các loại men vi sinh trên thị trường hiện nay, có lẽ người nuôi nên “tỉnh táo” để lựa chọn, đừng bị choáng ngợp bởi sản phẩm có đa dạng thành phần ở mức “số mũ to” hoặc liều sử dụng thấp, ngôn từ hoa mỹ về công dụng sản phẩm hay là giá cả thấp và chiết khấu cao.

Ưu tiên lựa chọn nên là kinh nghiệm truyền nhau, uy tín của nhà sản xuất / công ty phân phối và trên hết là trải nghiệm thực tế tại chính ao nuôi của mình.

Thực chất, có nhiều sản phẩm với thành phần và định lượng “khủng” nhưng khi xử lý tại ao không mấy tác dụng hoặc phải tăng liều gấp hai hoặc ba lần so với hướng dẫn sử dụng mà kết quả vẫn không như mong đợi

. Ngay cả khi đếm đủ định lượng vi khuẩn thì cũng chưa chắc là sản phẩm sẽ có hiệu quả trong môi trường ao nuôi thực tế vì phụ thuộc vào khả năng sống và phạm vi hoạt động / kiểm soát của từng loài / dòng vi sinh, lượng oxy, thông số lý hóa của đất và nước, tỉ lệ chất nền hữu cơ trong ao.

Bí quyết của một sản phẩm men vi sinh tốt sẽ ở kỹ thuật công nghệ nuôi cấy vi sinh của nhà sản xuất để đảm bảo các dòng vi khuẩn có lợi hoàn toàn tự nhiên, không biến đổi gien và chất lượng ổn định. Một số dòng vi khuẩn có lợi có khả năng kiểm soát tốt các thành phần dinh dưỡng trong cột nước để duy trì mật độ tảo ở mức thích hợp và hạn chế tảo độc phát triển, hoặc để ngăn ngừa các loại vi khuẩn hại và mầm bệnh tiềm tàng trong ao.

Đối với đáy ao có siphon hoặc không có siphon cũng rất cần những dòng vi khuẩn mạnh để kiểm soát sự tích tụ đáy ao, hạn chế quá trình yếm khí trong ao, giảm các loại khí độc (NH3, H2S) và hơn thế nữa là có thể hình thành các protein vi khuẩn và các floc để làm nguồn dinh dưỡng tự nhiên cho tôm. Vì thế, người nuôi nên sử dụng kết hợp sản phẩm men vi sinh xử lý đáy và nước để kiểm soát môi trường ao nuôi tốt hơn.

Người nuôi cũng nên lựa chọn các nhà sản xuất có uy tín, chuyên nghiệp và công nghệ vi sinh tiên tiến. Men vi sinh chính là những vi khuẩn sống nên đòi hỏi quy mô thiết bị hiện đại để sản xuất được các sản phẩm thực sự chất lượng cao và ổn định. Ngoài ra, các nhà sản xuất chuyên nghiệp còn có khả năng truy xuất nguồn gốc mọi thành phần trong sản phẩm từ nhà cung cấp đến người tiêu dùng cuối cùng.

Song song với hiệu quả xử lý của sản phẩm, người nuôi tất nhiên sẽ lưu tâm tính toán đến liều lượng xử lý và chi phí toàn bộ vụ nuôi. Mỗi đợt xử lý đều phải tăng liều và/ hoặc thời gian xử lý định kỳ ngắn ngày hơn thì sản phẩm giá rẻ sẽ trở thành quá đắt khi tính trên cả vụ nuôi, chưa nói đến rủi ro nếu môi trường nuôi không được xử lý kịp thời ảnh hưởng đến tỉ lệ sống và chất lượng tôm nuôi.

Khi đã chọn được một sản phẩm vi sinh tốt, người nuôi cũng cần quan tâm đến cách dùng sản phẩm: tính toán liều chính xác, định kỳ xử lý hoặc chia liều định kỳ nhỏ lại hoặc tăng liều tùy theo điều kiện thông số môi trường và quy trình cho ăn.

Thường xuyên theo dõi khay thức ăn và kiểm tra bùn đáy ao để xử lý liều vi sinh thích hợp.

Môi trường đáy ao biến động xấu, tôm sẽ ăn nhiều thức ăn trong khay, nên người nuôi có thể cho ăn nhiều hơn hoặc tăng cữ ăn sẽ làm môi trường tệ hơn, khi đó phải tăng liều vi sinh thì sẽ tốn chi phí hơn và lãng phí thức ăn.

Cũng sẽ rất mất thời gian và lãng phí khi dùng liều vi sinh quá cao có thể gây sụp tảo, mất cân bằng môi trường gây căng thẳng cho thủy sản nuôi.

Ở các ngày nhiệt độ cao hoặc mưa liên tục thì cần điều chỉnh tăng liều vi sinh thích hợp để tảo không phát triển quá dày.

Không sử dụng vi sinh cùng lúc với hóa chất và kháng sinh, vì hóa chất và kháng sinh sẽ làm chết hoặc làm mất tác dụng của vi sinh. Nếu đã sử dụng hóa chất và kháng sinh trong ao thì khoảng 2 – 3 ngày sau nên sử dụng vi sinh để khôi phục lại hệ vi sinh vật có lợi trong ao để cải thiện chất lượng nước và đáy ao.

Đa phần các sản phẩm vi sinh ở dạng bột, người nuôi nên cân trọng lượng liều phù hợp với đối tượng nuôi, mật độ và diện tích / thể tích ao nuôi. Cách sử dụng men vi sinh dạng bột là nên cho vào chậu một ít nước trước khi đổ sản phẩm vào để hạn chế bị gió tạt, khuấy đều và tạt khắp ao.

Thời gian xử lý vi sinh tốt nhất là lúc trời nắng và khi môi trường trong ao đã đủ lượng oxy hòa tan để các dòng vi khuẩn nhanh chóng được khởi động và nhân rộng sinh khối. tag: may suc khi

Có một quan niệm nên thay đổi về cách sử dụng men vi sinh là việc không sử dụng trước khi thả giống và sau khi thu hoạch, sử dụng loại men chất lượng trung bình, cắt giảm liều ở giai đoạn nuôi đầu vụ thì đều không thích hợp.

Môi trường ao nuôi trước khi thả giống đã được cải tạo và diệt khuẩn kỹ nên rất cần liều vi sinh mầm đầu tiên để nhân rộng sinh khối vi khuẩn có lợi đủ để lấn át vi khuẩn có hại và mầm bệnh tiềm tàng trong ao, đồng thời duy trì sử dụng vi sinh trong suốt quá trình nuôi để tạo môi trường thuận lợi nhất cho tôm phát triển.

Mặt khác, sau khi thu hoạch, ao nuôi còn lại rất nhiều các chất thải, cặn bã, phân tôm, xác tảo, bùn đen, mùi hôi thối, … cho nên cần sử dụng vi sinh để xử lý nước và đáy ao trước khi xả thải ra môi trường nhằm duy trì cho ao nuôi / vùng nuôi an toàn sinh học và bền vững ở các vụ tiếp theo.

Nên lưu ý rằng chi phí xử lý sự cố / rủi ro biến động môi trường hoặc phục hồi môi trường thì rất tốn kém, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và tỉ lệ sống của tôm hoặc thủy sản nuôi. Men vi sinh không phải là liều thuốc tiên, nên không thể khi nào có sự cố môi trường thì mới sử dụng.

Cần định kỳ xử lý vi sinh để duy trì một mật độ vi khuẩn thích hợp nhằm kiểm soát sinh học môi trường nước và đáy ao, ổn định các điều kiện mong muốn trong môi trường nuôi trồng, ngăn ngừa và lấn át các loài vi khuẩn gây bệnh, tảo độc và mầm bệnh tiềm tàng trong ao

. Người nuôi nên áp dụng quy trình xử lý vi sinh trước, trong và sau mỗi vụ nuôi.

Men vi sinh nên được bảo quản ở nơi khô ráo, thoáng mát, tránh ánh nắng trực tiếp, nóng và nơi ẩm thấp. Nếu sử dụng không hết gói thì gói kín phần còn lại, cần tránh ẩm để không bị đóng vón.

Tóm lại, chọn một loại men vi sinh tốt sử dụng đúng cách kết hợp trong quy trình nuôi an toàn sinh học sẽ giúp người nuôi quản lý và theo dõi môi trường nuôi thuận lợi hơn và đảm bảo an toàn sức khỏe cho tôm và thủy sản nuôi khác. tag: máy sục khí nuôi tôm

Giải pháp phòng chống hội chứng tôm chết sớm (EMS)

Tại hội thảo này, các nghiên cứu của các nhà khoa học cũng như doanh nghiệp đã được đưa ra để giúp cơ quan quản lý, đặc biệt là ND Việt Nam có biện pháp hạn chế thiệt hại trong nuôi tôm do EMS trong thời gian tới. tag: máy sục khí

Những kết quả nghiên cứu bước đầu

Theo kết quả thực nghiệm của giáo sư Donald Lightner – Đại học Arizona (Hoa Kỳ) và Trung tâm Thử nghiệm của Tập đoàn CP (Thái Lan), mầm bệnh Vibrio parahaemolyticus gây EMS phát triển rất nhanh nên có khả năng cạnh tranh mạnh với các vi khuẩn khác.

Khi ao nuôi được tẩy trùng bằng Chlorine trước khi thả tôm giống, vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus có thể phục hồi nhanh hơn nhiều so với các vi khuẩn cạnh tranh có lợi.

Do đó, nếu không sử dụng kịp thời vi khuẩn có lợi (men tiêu hóa, mem vi sinh) để khôi phục tính đa dạng của cộng đồng vi khuẩn, Vibrio parahaemolyticus có xu hướng xâm lấn tới bề mặt.

Vi khuẩn này được tìm thấy ở đáy ao và sản xuất ra chất độc cực mạnh.

Kinh nghiệm từ người nuôi tôm cho thấy, khi tôm nuôi có dấu hiệu bị bệnh gan tụy nên hạn chế cho ăn hoặc giảm lượng thức ăn sẽ giảm được tỷ lệ chết của tôm.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, EMS ít khi xảy ra ở độ mặn thấp, với độ mặn dưới 5/1000, EMS không phải là một vấn đề, do đó các trại nuôi may mắn nằm gần nguồn nước ngọt dường như không gặp vấn đề với bệnh EMS. Với độ mặn trên 5/1000, EMS sẽ là vấn đề cần đặc biệt chú ý, nhất là khi nước ao nuôi có độ mặn trên 10/1000, bởi khi đó EMS sẽ có tác động mạnh nhất.

Khuẩn gây bệnh EMS ưa phát triển ở môi trường đáy ao nên tôm nuôi trong lồng đặt cách xa đáy ao có ít nguy cơ bị nhiễm EMS hơn. tag: may suc khi

Giải pháp hạn chế thiệt hại do EMS

Qua thống kê cho thấy, nuôi tôm cỡ lớn dường như ít bị bệnh EMS hơn so với tôm cỡ nhỏ.

Do đó, một trong những kỹ thuật là ương nuôi tôm giống trong các bể xi măng hoặc composite, từ 10-25 ngày bằng nguồn nước ao nuôi trước khi thả tôm vào nuôi trong ao. Điều này sẽ giảm thiệt hại nếu như tôm giống bị chết, người nuôi tôm không mất công xả ao và cải tạo lại ao.

Kinh nghiệm từ người nuôi tôm cho thấy, khi tôm nuôi có dấu hiệu bị bệnh gan tụy nên hạn chế cho ăn hoặc giảm lượng thức ăn sẽ giảm được tỷ lệ chết của tôm.

Phương pháp phòng bệnh EMS được các nhà khoa học quan tâm đó là nuôi ghép tôm với một số đối tượng thủy sản khác, chẳng hạn như cá rô phi. Tại Malaysia, một số người nuôi tôm đã hạn chế được thiệt hại do EMS bằng cách sử dụng nước từ ao nuôi cá măng biển và cá rô phi bơm sang ao nuôi tôm.

Theo tiến sĩ Donald Lightner, nuôi ghép tôm với các đối tượng thủy sản khác có mức độ an toàn dịch bệnh cao hơn hẳn so với nuôi tôm độc canh.

Các đối tượng thủy sản này sẽ tiêu diệt các loài thiên địch có hại để bảo vệ sự cân bằng tự nhiên vốn có, đồng nghĩa các loại vi khuẩn có hại cho tôm sẽ bị tiêu diệt và tôm không ăn phải những loài vi khuẩn này nên ít bị nhiễm bệnh.

Tuy nhiên, giải pháp nuôi ghép vướng phải vấn đề tôm nuôi bị các đối tượng thủy sản khác ăn nếu nuôi không đúng kỹ thuật và đạt năng suất thấp so với nuôi tôm đơn canh nên đây cũng chỉ là giải pháp tạm thời.

Việc sử dụng công nghệ sinh học biofloc để đa dạng hóa quần thể sinh vật trong các ao nuôi tôm cũng được quan tâm rất nhiều.

Tuy chưa có các nghiên cứu giám sát về phương pháp này nhưng trong khuôn khổ nhóm công tác của Ngân hàng Thế giới/Quỹ Nuôi trồng thủy sản có trách nhiệm cho thấy nhiều mô hình áp dụng công nghệ Biofloc giúp tôm ít bị nhiễm EMS hơn. tag: máy sục khí nuôi tôm

Kiểm soát dịch bệnh trong nuôi tôm bằng chế phẩm sinh học

Kháng sinh đã được sử dụng với khối lượng lớn nhằm kiểm soát bệnh dịch, tuy nhiên, việc sử dụng này trong nhiều trường hợp thường không mang lại hiệu quả hoặc làm tăng thêm mầm bệnh. tag: máy sục khí

Công nghệ nuôi tôm bằng chế phẩm sinh học là chìa khóa giải quyết các vấn đề này.

Theo dự báo của FAO, ngành nuôi trồng thủy sản sẽ đáp ứng một nửa nhu cầu về sản phẩm thủy sản đến năm 2020 do ngành khai thác bị khai thác quá mức, dẫn đến sản lượng khai thác suy giảm.

Nghề nuôi tôm đang được mở rộng trên toàn thế giới, đặc biệt là các nước nhiệt đới do nhu cầu về sản phẩm này ngày càng tăng.

Tuy nhiên, nghề nuôi tôm hiện đang bị ảnh hưởng bởi các bệnh do vi khuẩn Vibrio và vi rút gây ra.

Mật độ thả nuôi trong các ao nuôi và bể chứa cao là nguyên nhân tạo ra các mầm bệnh và việc sử dụng các thức ăn giàu protein cũng tạo môi trường thuận lợi cho các vi khuẩn gây bệnh phát triển.

Phản ứng vi sinh trong nuôi trồng thủy sản

Việc sử dụng chế phẩm sinh học (men vi sinh) hay các vi khuẩn có lợi để loại trừ các vi khuẩn gây bệnh bằng quá trình cạnh tranh là một giải pháp tốt hơn nhiều so với việc sử dụng thuốc kháng sinh.

Nhờ bổ sung thêm các loài vi khuẩn có lợi được lựa chọn để loại trừ các vi khuẩn có hại nên thành phần các loài vi khuẩn trong ao nuôi có thể được thay đổi.

Tuy nhiên, quá trình này có thành công hay không lại phụ thuộc vào việc xác định quá trình sinh học, loại vi khuẩn có hại và dòng chế phẩm sinh học.

Cạnh tranh loại trừ là một trong các quá trình sinh học cho phép kiểm soát các thành phần vi khuẩn trong nước, trong các chất cặn bã và trong ruột của loài thủy sản nuôi.

Thuốc kháng sinh và mầm bệnh

Vibrio đã từng là nguyên nhân chính gây ra dịch bệnh trên tôm.

Để kiểm soát dịch bệnh do vi khuẩn Vibrio gây ra, người ta đã sử dụng thuốc kháng sinh, tuy nhiên cho đến thời điểm này, hiệu quả của việc sử dụng thuốc kháng sinh là rất thấp.

Ở Philippines, bệnh do vi khuẩn Vibrio đã gây ra tổn thất lớn về sản lượng tôm và gây thiệt hại về kinh tế cho người nuôi tôm trong năm 1996.

Vi khuẩn Vibrio đã kháng lại mọi loại thuốc kháng sinh  như chloramphenicol, furazolidone, oxytetracycline, và streptomycin và còn nguy hiểm hơn so với trước đây.

Tại Thái Lan, người nuôi đã sử dụng norfloxacin trong thức ăn, loại thuốc từng rất hiệu quả trong việc chống lại vi khuẩn Vibrio.

Tuy nhiên, điều trị này không mang lại hiệu quả vì sau khi ngừng thuốc toàn bộ tôm chết trong hai ngày. Rõ ràng, dòng vi khuẩn Vibrio đã kháng thuốc.

Chlorine được sử dụng rộng rãi trong các trại giống và trong các ao nuôi; tuy nhiên, việc sử dụng này lại kích thích sự phát triển của gen kháng thuốc trong vi khuẩn.

Một số người nuôi tôm ở Thái Lan cho biết khi chlorine được sử dụng trong các ao nuôi để diệt động vật phù du trước khi thả tôm, tuy nhiên sau khi dừng thả chlorine thì khuẩn Vibrio lại phát triển nhanh chóng.

Như vậy, Vibrio không những chỉ kháng thuốc mà còn là nguyên nhân gây thêm mầm bệnh.

Việc sử dụng thuốc chống vi khuẩn làm tình hình trở nên tồi tệ hơn.

Nếu thuốc kháng sinh hay thuốc sát trùng được sử dụng để diệt trừ vi khuẩn, một số vi khuẩn, mầm bệnh vẫn sống sót, bởi chúng đã mang gen kháng thuốc.

Bất cứ mầm bệnh nào trở lại trong ao hay các bể chứa từ ruột cá hay từ đường ống nước, đều có thể trao đổi gen với các vi khuẩn kháng thuốc và còn khỏe hơn trước.

Do vậy, các mầm bệnh kháng thuốc phát triển rất nhanh do đối thủ cạnh tranh đã bị loại trừ. Nồng độ tetracycline không đủ mạnh để diệt trừ vi khuẩn, do vậy tỷ lệ truyền gen giữa Vibrio cholerae and Aeromonas salmonicida tăng 100 lần. tag: may suc khi

Chế phẩm sinh học (men vi sinh)

Việc sử dụng chế phẩm sinh học để loại trừ các mầm bệnh bằng quá trình cạnh tranh loại trừ đang được sử dụng ngành chăn nuôi như là một giải pháp thay thế hữu hiệu hơn so với việc dùng thuốc kháng sinh và hiện được ứng dụng rộng rãi trong việc kiểm soát mầm bệnh trong nuôi trồng thủy sản.

Thuật ngữ “chế phẩm sinh học” thường được định nghĩa là các vi khuẩn có lợi cho vật chủ.

Theo Fuller (1989), chế phẩm sinh học là sự bổ sung một loại thức ăn vi sinh vật sống có tác dụng có lợi cho vật chủ qua việc cải tiến sự cân bằng vi sinh hệ trong đường ruột của vật chủ.

Trong nuôi trồng thủy sản, môi trường ao nuôi là môi trường thuận lợi cho các mầm bệnh phát triển độc lập với vật chủ, và vì thế các mầm bệnh phát triển nhanh vây quanh vật chủ.

Vi khuẩn Vibrio phát triển bám vào tảo và càng phát triển nhanh hơn trong hệ tiêu hóa của loài nuôi.

Do vậy, ở nơi nào mà mật độ tảo và loài nuôi cao thì số lượng vi khuẩn Vibrio cũng cao, gây ra mầm bệnh trên tôm, đặc biệt là mầm bệnh đã tăng do việc sử dụng thuốc diệt vi khuẩn quá liều.

Thành phần loài của một cộng đồng vi khuẩn, ví dụ cộng đồng vi khuẩn ở trong ao nuôi sẽ do tự nhiên quyết định. Điều này có nghĩa là các yếu tố tự nhiên quyết định loài này phát triển nhanh hơn các loài khác và chiếm ưu thế.

Cơ hội phát triển sẽ thuộc về các vi sinh vật ngẫu nhiên ở đúng vị trí, đúng thời điểm để có được nguồn dinh dưỡng như tảo hay thức ăn dư thừa xung quanh.

Cạnh tranh loại trừ là một trong các quá trình sinh học có thể được kiểm soát để làm thay đổi thành phần của đất, trong các thủy vực hay môi trường vi khuẩn khác.

Những thay đổi nhỏ ảnh hưởng tới tỷ lệ tăng trưởng hay tỷ lệ chết sẽ dẫn đến các thay đổi về sự chiếm ưu thế của từng loài.

Tuy chúng ta không biết các thành phần loài trong môi trường tự nhiên nhưng chúng ta có thể thay đổi thành phần loài bằng cách tận dụng các nguyên tắc cạnh tranh loại trừ.

Vì vậy, vi khuẩn không cần thiết phải diệt trừ tất cả các đối tượng cạnh tranh mà chỉ cần tăng tỷ lệ chết vừa đủ để lấy lại sự cân bằng trong việc tận dụng nguồn thức ăn.

Chẳng hạn, nếu dòng vi khuẩn Bacillus được sản xuất để kiềm chế sự phát triển của vi khuẩn Vibrio thì  tỷ lệ chết của vi khuẩn Vibrio sẽ tăng, dẫn đến dòng vi khuẩn Bacillus sẽ chiếm ưu thế, ngay cả khi thuốc kháng sinh được sản xuất ra có nồng độ không đủ mạnh để loài trừ tất cả các tế bào của vi khuẩn Vibrio.

Trong thập kỷ vừa qua, các công nghệ sinh học cũng như các nghiên cứu về vi khuẩn đã đạt được những thành tựu nhất định, vì thế các sản phẩm thương mại và công nghệ được bán để xử lý nước trong ao nuôi nhằm nâng cao mật độ của các loài vi sinh vật hay cải thiện các hoạt động sinh hóa.

Điều chỉnh sinh học đang được áp dụng ở nhiều lĩnh vực, tuy nhiên mức độ thành công cũng khác nhau, chủ yếu phụ thuộc vào sản phẩm được sử dụng và thông tin kỹ thuật đến với người tiêu dùng.

Loài vi khuẩn được dùng trong quá trình điều chỉnh sinh học phải được lựa chọn theo đúng chức năng để có thể thực hiện điều chỉnh sinh học và phải được dùng đúng liều lượng và ở môi trường phù hợp mới có thể đạt được kết quả mong muốn.

Điều chỉnh sinh học và việc sử dụng chế phẩm sinh học là những công cụ hữu ích cho quản lý nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng còn phụ thuộc vào việc hiểu biết bản chất của quá trình cạnh tranh giữa các loại vi khuẩn hay các dòng vi khuẩn cụ thể.

Chế phẩm sinh học như gram dương Bacillus là giải pháp thay thế việc dùng kháng sinh, hướng tới nuôi trồng thủy sản bền vững. Dòng chế phẩm Bacillus thường được tìm thấy trong lớp cặn bã và là thức ăn tự nhiên của tôm cá.

Các ứng dụng chế phẩm sinh học trong nuôi tôm

Thành phần loài vi khuẩn trong các ao nuôi tôm có diện tích khoảng 1 ha, trong các bể ương giống hay trong hệ tiêu hóa của tôm có thể dễ dàng thay đổi, nhờ vậy, sản lượng tôm được cải thiện.

Ví dụ điển hình là trang trại Viveros ở Negros, nơi bị thiệt hại nặng nề do vi khuẩn Vibrio gây ra.

Các loại thuốc kháng sinh đã được sử dụng trong thức ăn, tuy nhiên hiệu quả mang lại không cao. Sự có mặt của vi khuẩn Vibrio ở trong ao nuôi của vùng đó thường ở mức 103-104/ml trong vòng 2-3 tuần trong các ao nuôi sinh sản.

Tuy nhiên, khi chế phẩm sinh học được sử dụng thì không thấy xuất hiện bệnh và tỷ lệ sống là rất cao (80-100%) ngay cả khi vẫn có sự hiện diện của vi khuẩn Vibrio trong nước.

Trong các ao nuôi ở Philipin, khi chế phẩm sinh học được bổ sung thêm vào thức ăn thì số lượng vi khuẩn Vibrio trong gan tụy của tôm giảm xuống còn 1×104/ruột tôm và giảm xuống còn 0% khi chế phẩm được thả xuống ao.

Do vậy, nhiều người nuôi nhận thấy việc sử dụng kháng sinh trong điều trị bệnh do vi khuẩn Vibrio gây ra không mang lại kết quả.

Tại Indonesia, khi các dòng chế phẩm sinh học được lựa chọn thả xuống các ao nuôi thì vi khuẩn Vibrio hoàn toàn bị loại trừ trong nước và cặn bã ở đáy ao nuôi.

Quá trình này xảy ra là do việc tận dụng cơ chế tự nhiên, qua đó các vi khuẩn cạnh tranh loại trừ lẫn nhau.

Điều này cho thấy các vấn đề về bệnh có thể được giải quyết nhờ việc áp dụng chế phẩm sinh học. tag: máy sục khí nuôi tôm

Như vậy, việc sử dụng chế phẩm sinh học, dựa trên nguyên tắc cạnh tranh loại trừ là một phương pháp thay thế hữu hiệu trong việc phòng và điều trị bệnh trên tôm, đồng thời hướng tới một ngành nuôi tôm bền vững, thân thiện với môi trường và mang đến sản phẩm chất lượng, an toàn cho người tiêu dùng.

Làm giảm ô nhiễm ao nuôi tôm

Chọn công nghệ

Để hạn chế ô nhiễm trong ao nuôi đối với những địa phương có diện tích nuôi trồng thủy sản lớn như Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng…, người nuôi có thể chọn công nghệ nuôi truyền thống phù hợp, gồm các loại hình: nuôi tôm sinh thái, nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến. tag: máy quạt nước

Những loại hình nuôi này thường sử dụng thức ăn tự nhiên là chính, hoặc bổ sung một lượng nhỏ thức ăn.

Vừa hạn chế được ô nhiễm nước vừa có giá bán cao khi thu hoạch, phù hợp khả năng đầu tư của đa số hộ dân.

Đối với những doanh nghiệp nuôi và người dân có kinh nghiệm, có điều kiện kinh tế, có thể chọn những công nghệ nuôi tiên tiến, như: nuôi trải bạt nền đáy, nuôi tôm trong nhà kính, Biofloc, lọc tuần hoàn…

Những công nghệ này đều có điểm chung là vốn đầu tư lớn, tôm được thả nuôi với mật độ cao, các yếu tố môi trường được khống chế, hạn chế đến mức thấp nhất ảnh hưởng của bên ngoài đến ao nuôi, tạo điều kiện thuận lợi cho tôm sinh trưởng và phát triển tốt.

Ưu điểm của việc sử dụng các công nghệ này là chất thải của tôm trong quá trình nuôi được xử lý triệt để, không ảnh hưởng đến môi trường nước ao nuôi và xung quanh.

Cải tạo ao

Là khâu kỹ thuật quan trọng, góp phần hạn chế được nguồn ô nhiễm tiềm ẩn ao nuôi cả về môi trường và dịch bệnh. Do vậy trong quá trình cải tạo cần thực hiện các khâu kỹ thuật sau:

Thiết kế ao lắng, chiếm 10 – 15% diện tích ao nuôi. Ao là nơi lắng lọc và sử dụng hóa chất để xử lý nước trước khi cấp nước vào ao, đảm bảo nước khi được cấp vào ao phải trong, sạch và không có vi khuẩn gây bệnh.

Đối với ao mới đào, cần sử dụng vôi nông nghiệp CaO để trung hòa pH và tiêu diệt mầm bệnh, với liều lượng 12 – 15 kg/100 m2.

Vôi được rải đều trên bờ và đáy ao, dùng máy lồng cho vôi và bùn đáy ao lẫn vào nhau, ngâm nước sâu 5 cm từ 5 đến 7 ngày, sau đó bơm cạn, phơi đáy và lấy nước vào ao.

Ao đã nuôi được nhiều vụ cần sên vét hết lớp bùn đen ở đáy ao, dùng vôi rải xuống ao với liều lượng 10 – 12 kg/100 m2. Sau đó nên san phẳng nền đáy, hơi dốc về cống thoát, phơi ao 5 – 7 ngày.

Nếu người dân hoặc doanh nghiệp nuôi tôm có khả năng đầu tư, có thể trải bạt nền đáy hoặc bờ ao để hạn chế ô nhiễm từ đáy ao và thuận lợi cho việc định kỳ hằng tuần xi phông chất thải ra bên ngoài.

Chất lượng giống, mật độ thả

Chất lượng tôm giống có thể quyết định đến 60% tỷ lệ thành công. Để ao nuôi không bị ô nhiễm bởi dịch bệnh do giống kém chất lượng gây ra, người nuôi phải làm tốt khâu chọn giống ngay từ đầu. Giống nên được kiểm dịch bởi cơ quan có thẩm quyền và được cung cấp bởi những công ty có uy tín.

Thực tế nuôi tôm hiện nay, ngoài một số cá nhân và doanh nghiệp có khả năng đầu tư nuôi quy mô lớn, còn lại hầu hết đều các hộ nuôi nhỏ lẻ, khả năng đầu tư thấp.

Theo khuyến cáo của các chuyên gia, để nuôi tôm theo hướng bền vững, giảm thiểu ô nhiễm nước ao, người nuôi nên thả với mật độ vừa phải, tôm sú (10 – 20 con/m2), tôm thẻ chân trắng (40 – 60 con/m2).

Quản lý môi trường

Từ lúc cải tạo ao đến khi thả giống và thu hoạch, việc quản lý môi trường nước ao luôn được chú trọng và theo dõi chặt chẽ. Nên áp dụng quy trình kỹ thuật nuôi tôm sạch, hạn chế sử dụng hóa chất để xử lý môi trường ao nuôi.

Quản lý tốt sự phát triển của tảo trong ao nuôi, tránh hiện tượng tảo tàn, gây ô nhiễm nước ao.

Tăng cường sử dụng chế phẩm sinh học ( men vi sinh ) định kỳ để chuyển hóa các chất gây ô nhiễm thành dạng không độc hại, đồng thời phát triển các vi khuẩn có lợi cạnh tranh nơi sống và thức ăn của vi khuẩn có hại, khống chế không cho chúng bùng phát gây ô nhiễm, dịch bệnh cho ao nuôi.

Đối với nuôi tôm mật độ cao, lượng chất thải lớn, sinh ra nhiều khí độc trong nước; do vậy cần lắp đặt các dàn quạt lông nhím để hàm lượng ôxy từ không khí được cung cấp xuống tận đáy ao, giúp các phản ứng hóa học và quá trình phân hủy hiếu khí của vi khuẩn diễn ra thuận lợi hơn. tag: may quat nuoc

Thức ăn và cho ăn

Để tôm nuôi hấp thụ được tối đa lượng dinh dưỡng trong thức ăn, cần chọn loại thức ăn có chất lượng, phù hợp loài nuôi và với từng giai đoạn phát triển của tôm.

Tránh hiện tượng thức ăn kém chất lượng, chẳng những tôm hấp thu không hết chất dinh dưỡng trong thức ăn mà lượng chất thải ra nhiều hơn, làm tăng ô nhiễm nước ao.

Cùng với lựa chọn thức ăn tốt, việc cho tôm ăn đủ không những hạn chế được ô nhiễm của lượng thức ăn thừa gây ra mà còn tiết kiệm được chi phí trong nuôi tôm.

Cho tôm ăn cần tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật, đồng thời nên dựa theo sức ăn thực tế và những lần lột xác của tôm để có sự điều chỉnh hợp lý.

Nuôi ghép với loài khác

Để hạn chế chất thải trong quá trình nuôi tôm gây ô nhiễm môi trường nước ao, ngoài các biện pháp kể trên, hộ nuôi có thể sử dụng các mô hình nuôi ghép tôm với các loài khác (như cá rô phi, cá đối, cá dìa, rong câu, ốc hương…).

Mục đích dùng các loài nuôi ghép sử dụng lượng chất thải mà tôm thải ra làm thức ăn, hạn chế ô nhiễm môi trường nước ao, đồng thời tăng sản phẩm thu hoạch mỗi vụ nuôi.

Chọn loại hình nuôi hợp lý, cải tạo, quản lý môi trường ao nuôi tốt, sử dụng thức ăn phù hợp và nuôi ghép với những loài khác là những biện pháp cơ bản làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường ao nuôi tôm. tag: máy quạt nước đài loan

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/lam-giam-o-nhiem-ao-nuoi-tom-36704.html

Lọc nước nuôi tôm

Mấy thuở chìm nổi

Cuối thập niên 90 của thế kỷ trước, phong trào nuôi TTCT trên cát phát triển mạnh tại xã Mỹ An. Máu nghề sẵn trong người, thêm tính xông pha của tuổi trẻ, anh Thánh đi vay 45 triệu đồng để đầu tư vào hồ nuôi có diện tích 3.000 m2. tag: máy quạt nước

Vừa nuôi anh vừa tham khảo bí quyết của những người đi trước để bổ sung kiến thức. Sau 3 tháng, hồ tôm cho thu hoạch. Trừ hết chi phí, anh còn lãi ròng 70 triệu đồng.

Sau khi xuất bán tôm, anh dành nửa tháng để cải tạo hồ rồi tiếp tục thả giống nuôi vụ thứ 2. Trong năm 1999 anh thả nuôi 3 vụ, vụ nào cũng thắng.

Nước lên thuyền lên, sang năm 2000 anh Thánh tiếp tục đầu tư nuôi thêm hồ mới có diện tích 2.800 m2.

Những năm tiếp theo, năm nào anh Thánh cũng được nếm hương vị của chiến thắng trong công cuộc nuôi tôm. Mỗi năm, những hồ tôm đều đều mang về cho anh 200 triệu đồng tiền lãi.

Tuy nhiên, đến năm 2006 chuỗi thắng lợi của anh Thánh bị dịch bệnh tôm chặn đứng. Trong năm ấy, anh bị thua liền 3 vụ, tôm giống thả xuống chưa được bao lâu đã lăn ra chết trắng hồ vì bệnh đốm trắng.

Đến năm 2011, anh Thánh thả giống nuôi lại, chọn con giống kỹ càng hơn, áp dụng quy trình kỹ thuật chặt chẽ hơn, thế nhưng vẫn không thoát được dịch bệnh. Lần này anh thua trắng 200 triệu đồng tiền đầu tư.

Anh Thánh nhớ lại: “Thời điểm này người dân địa phương ào ạt san lấp mặt bằng làm hồ nuôi. Khi ấy tôi thả nuôi lại 3 hồ với diện tích trên 10.000 m2 và một hồ ương giống khoảng 600 m2. Anh Thánh thường xuyên kiểm tra độ phát triển của tôm.

Anh Thánh thường xuyên kiểm tra độ phát triển của tôm

Khi bị thua trắng, tôi xác định dịch bệnh phát sinh không phải do nguồn giống, không phải do nuôi không đúng quy trình hay do lây lan, mà do nguồn nước ngầm bị ô nhiễm. tag: may quat nuoc

Tôi tạm nghỉ nuôi, xử lý môi trường các hồ nuôi và tiếp tục học hỏi thêm kinh nghiệm. Trong thời gian này, tôi nắm bắt được yếu tố quyết định cho sự thành công trong nuôi tôm là nguồn nước nuôi phải sạch. Tôi quyết định nuôi tôm theo kiểu mới”.

Làm sạch nguồn nước

Nắm bắt được cách nuôi mới, kể như nắm chắc phần thắng trong tay. Sang năm 2012, anh Thánh mở rộng quy mô nuôi tôm thêm 2 hồ nữa. Tại thời điểm này tổng cộng anh Thánh nuôi 7 hồ tôm và 1 hồ ương nuôi tôm giống với tổng diện tích gần 20.000 m2.

Tiếp đến, anh xây dựng 1 bể lọc kim loại nặng và khí độc để lọc nguồn nước bơm vào ao nuôi.

Bể lọc nước có dung tích 12 m3 gồm một lớp san hô; một lớp than hoạt tính; một lớp cát sạch có tác dụng lọc nước, kim loại nặng và khí độc. Anh tự tin tiếp nối sự nghiệp nuôi tôm.

“Được sống trong môi trường nước sạch, tôm phát triển tốt, không sinh dịch bệnh, sản lượng cải thiện rõ rệt, từ 7 – 8 tấn/vụ/ha nay tăng lên 10 tấn/vụ/ha”, anh Thánh cho biết.

Trong năm 2014, các hồ tôm đã mang lại cho anh doanh thu 7 tỷ đồng. Khoản thu này ngoài bù được những khoản thua lỗ của những năm trước đó, còn nằm chắc chắn trong “hầu bao” của anh Thánh một khoản tiền lớn.

Năm 2015, anh Thánh vinh dự là một trong 2 thanh niên tiêu biểu của tỉnh Bình Định nhận giải thưởng Lương Định Của.

“Trong thời điểm nhạy cảm về môi trường như hiện nay, mình phải theo dõi sát sao sự phát triển của tôm và các dấu hiệu của nguồn nước, chủ yếu là độ pH để có cách xử lý kịp thời. Để giảm ô nhiễm trong hồ nuôi, cần áp dụng cách nuôi tôm luân phiên, 2 vụ tôm chính xen kẽ vụ tôm phụ.

Từ tháng 1 đến tháng 3 và từ tháng 8 đến tháng 11 âm lịch thả nuôi vụ chính, vụ phụ nuôi xen, trung bình 2 năm nuôi 5 vụ tôm. Mật độ giống thả trong vụ chính là trên 100 con/m2, vụ tôm phụ 50 con/m2”, anh Thánh chia sẻ. tag: máy quạt nước đài loan

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/loc-nuoc-nuoi-tom-36543.html

Kinh nghiệm chọn và thả tôm giống

Chọn tôm giống

Kiểm tra tôm bằng phương pháp cảm quan: Tôm có kích cỡ đồng đều, hệ số chênh lệch không vượt quá 5%, chiều dài >12cm. Màu sắc tôm tươi sáng, màu xám hoặc vàng xám (màu da bò), đầu thân cân đối, đuôi tôm xòe ra là con giống tốt. tag: máy quạt nước

Dùng tay gõ nhẹ vào thành dụng cụ chứa tôm, nếu tôm phản ứng nhanh thì đàn tôm đó khỏe. Tôm bột không khỏe sẽ bơi lờ đờ, không phản ứng và bơi lội cong vẹo. Có thể cho tôm giống vào thau dùng tay khuấy đều, tôm khỏe thường bơi ngược dòng hoặc bám xung quanh thành thau, tôm yếu thường tụ lại ở giữa.

Nếu có kính lúp, lấy ngẫu nhiên khoảng 15 con tôm giống trong cùng một bể lên soi. Nếu thấy gan tụy, ruột nhỏ hoặc không có thức ăn, có các sinh vật bám vào thân, chân tôm hay có những con bị gãy râu, gẫy chân thì mẻ đó có chất lượng không tốt.

Có thể chọn tôm bằng phương pháp gây sốc cho tôm bằng cách dùng Formalin test 100 – 150 ppm, hoặc hạ đột ngột độ mặn 15 ppt. Loại A 90 – 100% tôm còn sống, loại B 80 – 89 % còn sống, loại C <79% tôm còn sống sót.

Nếu có điều kiện tốt nhất người nuôi đem tôm đi để kiểm tra bằng phương pháp PCR để xác định tôm giống không nhiễm mầm bệnh. tag: may quat nuoc

Cách thả

Nên thả giống vào lúc trời mát. Cân bằng độ mặn trước khi vận chuyển để có độ mặn tương đồng và nhiệt độ phải cân bằng giữa hai môi trường. Tôm giống thả đầu hướng gió để tôm phân tán khắp ao. Có hai cách thả tôm giống an toàn:

Cách 1: Bao tôm mới vận chuyển về thả trên mặt ao khoảng 15 – 30 phút để cân bằng nhiệt độ bên trong và ngoài bao. Sau đó mở miệng bao ra, tạt từ từ nước ngoài ao vào trong bao, sau đó mở dần miệng bao để tôm bơi ra. Khi thả tránh lội xuống ao làm đục nước ao.

Cách 2: Chuẩn bị một số thau lớn khoảng 20 lít và máy sục khí. Đổ bao tôm vào thau khoảng 10.000 con/thau và sục khí. Cho thêm nước ao nuôi vào thau từng ít một để tôm thích nghi dần. Sau khoảng 15 – 30 phút nghiêng thau để tôm bơi ra từ từ. Một số dấu hiệu để nhận biết tôm khỏe là thích nghi với môi trường nước khi thuần tôm trong thau, không có hoặc ít tôm chết. Tôm bơi lội linh hoạt, bám vào thành thau. Tôm khỏe sau khi thả trong ao bơi chìm không nổi trên mặt nước.

Khi thả giống phải lưu ý đến thời tiết. Không nên thả giống vào trời mưa và trước khi mưa. Khi mưa các yếu tố môi trường nước biến đổi nhanh, tôm giống mới thả đang yếu khó thích nghi dẫn đến tình trạng hao hụt nhiều. tag: máy quạt nước đài loan

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/kinh-nghiem-chon-va-tha-tom-giong-36534.html

Nuôi ba ba trong hồ xi măng

Từ việc nuôi dê không thành công, gia đình ông Chót bỏ công tìm tòi, học hỏi kinh nghiệm chuyển sang nuôi ba ba. tag: máy quạt nước

Ông Chót kể: “Trước đây, thấy việc nuôi dê lâm cảnh bấp bênh, anh tôi là ông Vương Vĩnh Lợi sang Thái Lan, Malaysia tìm hiểu mô hình mới. Nông dân bên ấy nuôi ba ba thành công từ việc xây dựng hệ thống ao nuôi rất khoa học. Vì thế, mấy anh em tôi quyết định hợp sức để làm”.

Để có được trang trại với 24 hồ nuôi ba ba như hiện tại, gia đình ông Chót mất thời gian, công sức, vốn liếng đầu tư hơn 10 năm trời.

Ông Chót cho biết: “Để chuyển sang đầu tư ba ba, chúng tôi sang bằng mặt liếp xây 2 hồ xi măng 40 m2 thả nuôi 50 con ba ba bố mẹ (40 cái, 10 con đực) với số tiền gần 30 triệu đồng. Một phần kỹ thuật áp dụng từ kinh nghiệm nuôi dê và bỏ thời gian học hỏi thêm kỹ thuật nuôi thông qua sách, báo. Chính vì vậy, hơn 2 năm sau, đàn ba ba đã tăng lên 6.000 con”.

Tuy nhiên, đầu năm 2005, đàn ba ba của ông gặp “đại dịch” do bệnh tụ huyết trùng nên thua lỗ hàng chục triệu đồng. Không từ bỏ quyết tâm, anh em ông Chót đã quyết định gây dựng lại sự nghiệp từ việc mở rộng diện tích, học hỏi thêm kỹ thuật và chỉ hơn 1 năm sau trại nuôi ba ba cho thu nhập hàng trăm triệu đồng.

Ông Chót bộc bạch: “Mô hình nuôi ba ba của tôi phát triển đỉnh điểm nhất là vào năm 2006, thời gian đó mỗi năm, xuất bán 4 lần ba ba thương phẩm với giá bán 320.000 – 380.000 đ/kg và 20.000 con giống (5.000 – 10.000 đ/con) đem lại nguồn thu nhập trên 800 triệu đồng”.

Nối tiếp đà thành công, mỗi năm hồ nuôi ba ba của lão nông này mở rộng từ 2 – 4 hồ và đến nay số hồ đã tăng lên 24 cái. tag: may quat nuoc

Nói về hiệu quả và kinh nghiệm nuôi ba ba, ông Chót chia sẻ: “Nuôi ba ba nên chăm sóc kỹ, thay nước thường xuyên trong 6 tháng đầu. Hồ được thiết kế có máng để thay nước sau mỗi ngày cho ăn. Ba ba nuôi 6 tháng tuyển ra con đực và con cái. Tỷ lệ nuôi lý tưởng là 4 con cái, 1 con đực.

Mực nước trong ao dao động từ 1,5 – 1,8 m, đáy hồ dơ sẽ dùng vôi để xử lý. Nguồn thức ăn chủ yếu là cá biển. Trước khi xay cho ăn được ngâm qua nước sôi để tiệt trùng. Mỗi ngày nên cho ăn 2 lần. Ba ba nuôi từ 14 – 15 tháng đạt trọng lượng 1,5 kg/con.

Xây dựng hồ xi măng có máng ăn nên sau mỗi ngày việc vệ sinh, thay nước rất dễ dàng, còn diện tích mặt nước trong hồ thì đến 1 tuần mới thay nước một lần nên tiết kiệm rất nhiều chi phí.

Ngoài ra, việc nuôi trong hồ xi măng tỉ lệ hao hụt con giống rất thấp, dịch bệnh được kiểm soát dễ dàng mà hiệu quả cao hơn rất nhiều. Sau 14 tháng nuôi, ba ba đạt trọng lượng 1,5 kg/con thay vì 1,2 – 1,3 kg so với việc nuôi hồ đất.

Hồ ba ba của ông Chót được xây dựng hoàn toàn trên bờ nên rất chủ động cho việc cấp và thoát nước. Ngoài ra, đáy hồ được cho một lớp cát 6 phân để cơ thể ba ba được làm sạch, không bị đóng rong nên lớn nhanh.

Tận dụng nước thải nuôi ba ba để cung cấp nước cho 8 ha ruộng lúa của người dân nên chi phí cho việc thay nước của gia đình ông Chót không phải tốn.

Hiện tại, với diện tích 2.000 m2 (24 hồ) ông Chót thả nuôi 8.000 con ba ba thương phẩm, 500 con bố mẹ (trọng lượng 2,5 – 3 kg) để cho sinh sản. Do để nguồn hàng cung ứng quanh năm và được giá nên ba ba thương phẩm đạt loại 1 (trọng lượng 1,3 – 1,5 kg/con) mới xuất bán, cho nguồn lợi nhuận rất cao.

Vừa rồi, xuất 350 kg với giá 280.000 đ/kg. Tính ra, mỗi năm ông Chót xuất bán 2 lần ba ba thịt khoảng 1 tấn với mức giá từ 260.000 – 280.000 đ/kg, 20.000 con giống với giá 10.000 đ/con, trừ chi phí lãi trên 300 triệu đồng.

Ông Nguyễn Văn Hòa, Phó Chủ tịch Hội Nông dân xã Long Hòa cho biết: Mô hình nuôi ba ba của ông Chót là mô hình công nghệ cao và cho hiệu quả lớn.

Đầu ra cho sản phẩm ổn định hơn so với cá tra và một số loại thủy sản khác. Bồn nuôi xây dựng trên nền đất thuận lợi cho việc cung cấp và xử lý nước nên không gây ảnh hưởng đến môi trường. tag: máy quạt nước đài loan

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/nuoi-ba-ba-trong-ho-xi-mang-36549.html