Monthly Archives: October 2017

Nuôi tôm thẻ chân trắng thành công bằng vi sinh và tỏi

Tỏi là chất kích thích miễn dịch tự nhiên cho tôm, với rất nhiều hoạt tính kháng vi khuẩn gram âm và dương, hoạt tính kháng virus, kháng nấm, tăng cường hệ miễn dịch cho động vật thủy sản. tag: máy sục khí

Tỏi kích thích quá trình thực bào, đại thực bào.

Nuôi tôm thẻ chân trắng thành công bằng vi sinh và tỏi

Việc bổ sung tinh dầu tỏi cho động vật thủy sản nuôi có thể gia tăng chỉ số hồng cầu, lượng hemoglobin, bạch cầu và tiểu cầu.

Như vậy tỏi dùng trong nuôi thủy sản có thể coi như một chất thay thế kháng sinh và các yếu tố trị liệu hóa học.

Allin và Allicinase là hai chất có sẵn trong tỏi, khi tỏi bị đập dập, hai chất này sẽ kết hợp với nhau tạo thành chất Allicin (một kháng sinh tự nhiên có khả năng kháng khuẩn và nấm).

Allicin có khả năng kháng khuẩn bằng 1/5 thuốc Peniciline và bằng 1/10 thuốc Ocytetracylin.

Ngoài ra, thành phần của tỏi còn chứa diallyl disulfide, chất này có tác dụng nhanh và mạnh hơn hai dòng kháng sinh Erythromycin và Ciprofloxacin.

Bên cạnh đó, tỏi còn có công hiệu trị sán, giun kim, các bệnh nấm.

Phương pháp sử dụng

Phòng bệnh phân trắng và chết sớm bằng tỏi

Lấy 10 kg tỏi, lột sạch vỏ rồi giã nhuyễn, để trong 24 giờ đến khi tỏi có màu vàng nghệ.

Lấy 10 kg rượu 450 trộn chung với tỏi rồi xay nhuyễn, sau đó cho vào bình đậy kín nắp, 7 ngày sau vắt lấy nước cho tôm ăn.

Liều lượng: 10 ml/kg thức ăn, ngày 3 cữ, cho ăn từ lúc mới thả giống đến khi thu hoạch.

Phần bã tỏi trộn với vi sinh E.M và rỉ đường.

Liều lượng: 6 kg bã tỏi + 1 lít E.M gốc +1,5 kg rỉ đường, cho vào bình 20 lít, rồi đổ đầy nước sạch.

Sau 30 ngày, vắt lấy nước cho tôm ăn với liều lượng 20 ml/kg thức ăn/ngày.

Tôi mua tôm giống của Tập đoàn Việt-Úc, sau quá trình nuôi tôm sử dụng tỏi, thấy đường ruột tôm lớn, tôm không mắc bệnh chết sớm và bệnh phân trắng, TTCT 88 ngày đạt kích cỡ 45 con/kg; tỷ lệ sống 100%, năng suất 15 tấn/ha.

Phòng đục cơ cong thân bằng trái chanh

Chanh có chứa nhiều chất có lợi như axit xitric, canxi, magiê, Vitamin C, flavonoid sinh học, pectin, limonin, kali 248 ml các chất hỗ trợ miễn dịch và kháng khuẩn.

Cách sử dụng: Dùng khoảng 50 g chanh trộn với 3 kg thức ăn (hoặc lấy 5 ml nước cốt chanh trộn với 1 kg thức ăn) cho tôm ăn ngày 3 lần.

Vi sinh E.M: E.M là tập hợp các loại vi sinh vật gồm khoảng 80 – 120 loài cả kỵ khí và hiếu khí thuộc 10 chi khác nhau. tag: may suc khi

Chúng bao gồm các vi khuẩn quang hợp (tổng hợp chất hữu cơ từ CO2 và H2O), vi khuẩn cố định Nitơ (sử dụng chất hữu cơ của vi khuẩn quang hợp để chuyển N2 trong không khí thành các hợp chất hữu cơ), xạ khuẩn (sản sinh chất kháng sinh ức chế vi sinh vật gây bệnh và phân giải chất hữu cơ), vi khuẩn Lactic (chuyển hóa thức ăn khó tiêu thành dễ tiêu), nấm men (sản sinh vitamin và các axit amin), các vi sinh vật trong E.M tạo ra một hệ thống vi sinh thái với nhau, chúng hỗ trợ lẫn nhau, cùng sinh trưởng và phát triển.

Trị tảo lam: Sử dụng 30 lít E.M cấp 2 + 10 kg rỉ đường dùng cho 2.000 m3, xử lý 3 ngày liên tục.

Cách làm E.M cấp 2: Sử dụng 1,5 lít E.M cấp 1 + 3 kg rỉ đường cho vào bình chứa 30 lít, để trong mát 7 ngày.

Hạn sử dụng E.M cấp 2 từ 3 đến 6 tháng và E.M cấp 1 từ 6 đến 12 tháng.

Để giảm khí độc NH3, H2S và ổn định môi trường nước, sử dụng 30 lít E.M cấp 2 + 6 kg rỉ đường dùng cho 2.000 m3, 2 ngày/lần.

Sau khi thu hoạch tôm thấy lượng bùn đáy giảm.

Phân tích thấy mật độ vi khuẩn có lợi nhiều, ức chế sự phát triển của vi khuẩn có hại.

Theo kinh nghiệm của tôi, sử dụng tỏi, chanh, vi sinh E.M trong suốt quá trình nuôi tôm là phương pháp nuôi bền vững, hiệu quả phòng bệnh cao mà không cần phải sử dụng kháng sinh.

Tôi đã áp dụng hai vụ thành công, tôi chia sẻ ra để mọi người cùng tham khảo.

Nếu có thắc mắc xin liên hệ, biết nhiêu nói hết.

Nguyễn Ngọc Tuấn (Tấm)

Địa chỉ: ấp Trí Đồ, xã Bình Đông, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang

Email: anguyenngoctuan@gmail.comĐT: 0969 302 978 – 0939 112 487

TS Hứa Ngọc Phúc – Trưởng phòng Công nghệ sinh học và Phát triển thủy sản – Viện Nghiên cứu NTTS III: E.M là chế phẩm sinh học hoàn hảo, có chứa trên 80 loài vi khuẩn có lợi.

Trong điều kiện nuôi tôm nước lợ, sử dụng E.M trộn vào thức ăn và xử lý nước có thể phát huy tối đa hiệu quả.

Tỏi là kháng sinh tự nhiên, có khả năng diệt khuẩn, phòng bệnh phân trắng và nâng cao sức đề kháng tự nhiên của tôm nuôi.

Còn chanh cung cấp nguồn Vitamin C tốt, có tác dụng tăng cường sức đề kháng của tôm nuôi.

Sử dụng tỏi, chanh, E.M trong quá trình nuôi là phương pháp phòng bệnh tốt cho tôm.

Tuy nhiên, cần lưu ý đến liều lượng cũng như phương pháp sử dụng, đặc biệt là khi kết hợp E.M với tỏi. tag: máy sục khí nuôi tôm

Bởi, khi sử dụng đồng thời tỏi với E.M sẽ làm giảm tác dụng của E.M, do thành phần kháng sinh trong tỏi sẽ tiêu diệt một số loại vi khuẩn có lợi trong E.M.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/nuoi-tom-the-chan-trang-thanh-cong-bang-vi-sinh-va-toi-32806.html

O2-Turbine- Máy sục khí chuyên dụng cho thủy sản

Những chủ doanh nghiệp trang trại nuôi tôm sớm nhận ra rằng nuôi tôm có nhiều lợi ích và giá trị cao, nhưng cũng đồng thời chia sẻ về những thách thức và thử thách. Những thách thức dễ dàng là tìm được vị trí đất cho các trang trại, quyết định các nguồn thức ăn cho các loài được chọn. tag: máy sục khí

Những thách thức khó khăn là vệ sinh ao, kiểm soát dịch bệnh, tỷ lệ tăng trưởng, ảnh hưởng của độ mặn và nhiệt độ, mật độ tôm trong ao cao, thói quen sinh sản, áp lực, và một tá những trở ngại khác phát sinh.

aquaculture farm aeration

Thiết bị sục khí trong trang trại nuôi tôm – đặc biệt nuôi tôm nhà kính để bơm oxy hòa tan gần như là một tâm điểm nằm trong tất cả những thách thức khó khăn. Cụ thể, lượng oxy hòa tan vừa đủ ở mọi thời điểm có thể làm giảm hoặc loại bỏ những trở ngại mà người nuôi tôm phải đối mặt.

Lượng oxy hòa tan trong ao nuôi tôm là một trọng những điểm quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng nước. Đổi lại, chất lượng nước là rất quan trọng đối với vấn đề tài chính và năng suất của các hoạt động nông nghiệp. Máy sục khí O2-Turbine là lý tưởng để cải thiện chất lượng nước trong ao nuôi trồng thủy hải sản. Nó sử dụng các công nghệ mới nhất trong thiết bị sục khí tự động và nó đưa được một lượng lớn oxy hòa tan vào trong ao. Công nghệ này đã được phát triển ở châu Âu và được dựa trên các nguyên tắc kỹ thuật của tiến động như áp dụng cho chuyển động quay của chất lỏng.

Máy sục khí O2-Turbine hoạt động không gây ồn, hiệu quả và tiết kiệm chi phí. Không những là một trong những các máy sục khí tốt nhất mang lại hiệu quả cao trong việc chuyển hóa oxy, mà còn là một trong những máy có chi phí đầu tư ở mức thấp nhất. Kết quả cuối cùng là công nghệ Máy sục khí O2-Turbine sẽ hoàn vốn đầu tư cho chính nó trong thời gian ngắn hơn so với bất kỳ hệ thống sục khí khác thông qua việc tiết kiệm năng lượng, giảm thất thoát, và gia tăng sản xuất.

Các khả năng của bất kỳ thiết bị sục khí dùng để đưa oxy hòa tan vào ao nuôi trồng thủy hải sản đều bị ảnh hưởng bởi sự hòa tan của oxy. Sự hòa tan này bị ảnh hưởng bởi áp suất khí quyển, áp suất thủy tĩnh, và nhiệt độ nước và giữa các yếu tố khác. Trong số này, nhiệt độ nước là đáng quan tâm nhất cho người nuôi trồng thủy hải sản. tag: may suc khi

O2-Turbine Aerator
Máy sục khí O2-Turbine trên một ao nuôi tôm công nghiệp trong nhà kính

Oxy hoà tan thâm nhập vào các ao tự nhiên thông qua không khí / mặt nước. Quá trình này được tăng cường nhờ vào gió mà tạo ra một sự khuấy động nhẹ ở mặt nước. Các phương tiện tự nhiên quan trọng khác để sản xuất oxy là thông qua quang hợp. Khi ánh sáng mặt trời chạm mặt nước, sinh vật phù du và thực vật thủy sinh sử dụng năng lượng ánh sáng để tạo ra oxy như một sản phẩm phụ của quá trình chuyển hóa. Trong các ao nuôi tôm thực vật và tảo đóng một vai trò chủ đạo trong sản xuất oxy. Ở trong ao có độ sâu thì hầu hết các hoạt động sản xuất oxy do các loài thực vật phù du sản xuất.

Vì việc quang hợp phụ thuộc vào ánh sáng mặt trời, hàm lượng oxy hòa tan trong ao tôm có thể khác nhau rất nhiều trong khoảng thời gian 24 giờ. Bắt đầu dần dần trong ánh sáng mặt trời buổi sáng, nồng độ oxy hòa tan tăng cho đến giữa buổi chiều khi mặt trời ở độ sáng nhất của nó. Tại thời điểm này quang hợp bắt đầu chậm lại và dừng lại hoàn toàn sau khi trời tối. Nếu cường độ của ánh sáng mặt trời là cao trong ngày, nghĩa là không có mây bao phủ, đủ oxy thường có thể được sản xuất để trang trải các nhu cầu oxy vào ban đêm. Vào những ngày mây dự trữ oxy có thể giảm đến mức độ gây chết cho tôm.

Ngay cả khi có ánh sáng mặt trời mạnh, sản xuất oxy có thể bị ảnh hưởng nếu nước không đủ độ trong để cho ánh sáng xuyên qua. Những ao đã được xử lý qua phương pháp bón phân có thể dẫn đến quá sinh sản sinh vật phù du. Những sinh vật phù du vô tình che khuất ánh sang ở độ sâu. Sản xuất oxy là như vậy, chỉ giới hạn ở các khu vực bề mặt của ao. Sản xuất đó không thể đáp ứng các nhu cầu oxy của các tầng sâu ở trong ao. Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng mức độ bão hòa oxy ở giữa buổi chiều phải đạt trên 10 miligam trên lít (mg / l) để tránh sự thiếu hụt oxy ngay trước khi mặt trời mọc.

Nuôi tôm trong nhà là hệ thống sinh học phức tạp, và không có hai môi trường ao hoàn toàn giống nhau. Không chỉ chúng khác nhau trong sản xuất oxy, mà còn trong tiêu thụ oxy. Trong khi sản lượng phụ thuộc phần lớn vào điều kiện ánh sáng và không khí / bề mặt nước, tiêu thụ (tức là hô hấp) phụ thuộc vào nhiệt độ nước và hàm lượng oxy hòa tan trong ao. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng cường độ hô hấp ở những loài tôm có xu hướng đi theo một nhịp điệu cụ thể hàng ngày. Hô hấp đến mức tối đa hàng ngày của mình vào buổi chiều, và tỷ lệ hô hấp là tỷ lệ thuận trực tiếp với oxy có sẵn. Vào các buổi chiều có mây thì sản xuất oxy có thể ở mức độ thấp trong khi mức tiêu thụ đang ở đỉnh cao, dẫn đến sự thiếu hụt oxy.

O2-Turbine Aerator
Máy sục khí O2-Turbine đang hoạt động ao trên tôm công nghiệp trong nhà kính

Thiếu hụt oxy trong trại nuôi tôm không cần phải dẫn đến việc tôm chết để được quan tâm. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng chủ đầu tư nuôi tôm thể bị tổn hại bởi nồng độ ôxy thấp. Mức độ bão hòa oxy hòa tan ở 25% hoặc ít hơn có thể ảnh hưởng đến lượng thức ăn, sử dụng thực phẩm, tỷ lệ chuyển đổi, và năng suất.

Sục khí oxy nhân tạo có nghĩa là sử dụng một thiết bị cơ khí để đưa nồng độ oxy đến điểm nhằm đảm bảo cho sức khỏe của các loài, trong khi tối đa hóa các mục tiêu sản xuất của trang trại. Ngày nay, nuôi tôm công nghiệp phụ thuộc vào hoạt động sinh học tăng mà có xu hướng vượt xa nguồn cung cấp oxy tự nhiên. Sục khí đáy nhân tạo sau đó trở thành một yếu tố cơ bản trong sản xuất. Nó không chỉ đóng vai trò cứu sống trong sức khỏe của các loài, mà còn là một vai trò tiết kiệm trong nền kinh tế của các trang trại.

Hầu hết các chủ trang trại nuôi tôm lớn biết tầm quan trọng của oxy và sử dụng một số phương tiện nhân tạo để tang cường nồng độ oxy trong nó. Có lẽ là loại phổ biến nhất của hệ thống sục khí ao được sử dụng bởi những người nông dân là một số phiên bản của Máy quạt nước. Việc sử dụng bất kỳ hệ thống sục khí dù sao vẫn tốt hơn là không sử dụng, máy quạt nước cũng không phải là lựa chọn tốt nhất cho ao nuôi tôm công nghiệp ngày nay. Bên cạnh tạo ra những bóng khí lớn dẫn đến việc thoát nước quá nhanh, các hệ thống này có thể tương đối cao trong chi phí ban đầu và tiêu thụ điện năng. tag: máy sục khí nuôi tôm

Trọng tâm của sục khí ao nuôi thủy sản không phải là vấn đề cố gắng làm tăng nồng độ oxy, nhưng điều tiết và quan trắc nồng độ oxy hòa tan. Ví dụ, nếu hàm lượng oxy giảm xuống dưới 20%, chế độ ăn có thể giảm xuống mức dưới tối ưu. Nếu mức độ oxy là quá cao, nếu nói cao hơn 100%, có thể buộc phải tăng hô hấp và các vấn đề khác. Như vậy, quy định oxy đóng một vai trò trực tiếp trong nền kinh tế của sản xuất. Mỗi chủ doanh nghiệp nuôi cá nên sử dụng một đồng hồ đo oxy liên tục theo dõi nồng độ oxy. YSI (ysi.com) là một công ty hàng đầu trong việc bán các thiết bị thăm dò đo oxy và các phụ kiện khác để theo dõi nước ao.

Một lý do quan trắc oxy là rất quan trọng vì gió có thể đóng một vai trò lớn trong nồng độ oxy. Trong thời điểm gió cao, có thể giảm bớt các máy sục khí để tiết kiệm chi phí. Gió mạnh thổi qua ao lớn có thể khuyếch tán lên đến 4.8 g / m2 / ngày của oxy vào trong nước. Các tác dụng không đáng kể trên các ao nhỏ, nơi khuếch tán chỉ chiếm 1.5 g / m2 / ngày của oxy.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/o2-turbine-may-suc-khi-chuyen-dung-cho-thuy-san-36733.html

Thay thế protein đậu nành bằng protein rong bún và rong mền cho tôm giống

Tuy nhiên, giá bột cá ngày càng tăng, bột đậu nành là một trong các loại nguyên liệu được sử dụng phổ biến làm nguồn protein thực vật để thay thế một phần bột cá trong khẩu phần ăn cho cá, tôm (Suárez, et al., 2009; Rana et al., 2009; FAO, 2013). tag: bệnh tôm chết sớm

Bên cạnh đó, rong biển cũng được sử dụng làm nguồn protein thay thế phù hợp trong thức ăn thủy sản (FAO, 2003; Costa et al., 2013).

Thay thế protein đậu nành bằng protein rong bún và rong mền cho tôm giống

Rong bún (Enteromorpha sp.) và rong mền (Cladophoraceae) thuộc ngành rong lục có giá trị dinh dưỡng cao, giàu axit amin và axit béo thiết yếu, xuất hiện tự nhiên với sinh lượng khá lớn trong các thủy vực nước lợ (ao nuôi tôm quảng canh, kênh, mương…) ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, là đối tượng rất có tiềm năng trong nuôi trồng thủy sản (ITB-Vietnam, 2011; Nguyễn Thị Ngọc Anh và ctv., 2013a) .

Nghiên cứu của Cruz-Suarez et al. (2009) nhận thấy khi bổ sung 3,3% bột rong bún Enteromorpha trong khẩu phần ăn cho tôm chân trắng, tôm có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn, hệ số tiêu tốn thức ăn thấp hơn và màu sắc tôm đậm hơn so với nhóm tôm được bổ sung hai loài rong nâu (Macrocystis sp. và Ascophyllum sp.).

Nghiên cứu khác của Nguyễn Thị Ngọc Anh và ctv.

(2013b) cho thấy protein bột cá có thể được thay thế 30% protein rong mền và 45% protein rong bún trong thức ăn viên cho cá tai tượng (Osphronemus groramy).

Tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) được nuôi thành công ở Việt Nam trong những năm gần đây, do chúng có một số đặc tính ưu việt hơn so với tôm sú như tốc độ tăng trưởng nhanh, chịu đựng tốt hơn đối với nuôi ở mật độ cao, nhu cầu protein trong khẩu phần ăn thấp (35%), đặc biệt sử dụng protein thực vật hiệu quả hơn trong thức ăn viên (Cruz- Suasrez, 2010; Liao and Chien, 2011).

Vì thế, mục tiêu của nghiên cứu nhằm xác định được mức thay thế protein đậu nành bằng protein rong bún và rong mền thích hợp trong phối chế thức ăn cho tôm thẻ chân trắng giống.

Kết quả đạt được có thể khuyến khích nông hộ sử dụng nguồn rong sẵn có làm thức ăn cho tôm, cá.

 

Phương pháp nghiên cứu

Thức ăn thí nghiệm:

Thiết lập công thức thức ăn thí nghiệm được tính toán dựa trên chương trình Solver trong phần mềm Excel.

Tỉ lệ protein bột cá và protein bột đậu nành là 2:1.

Rong bún và rong mền được thu từ ao tôm thâm canh bỏ hoang ở Bạc Liêu, rửa sạch, tách bỏ rong tạp và rong già, phơi khô trong bóng râm và rong khô được xay thành bột mịn.

Các nguyên liệu gồm bột rong bún, bột rong mền, bột cá, bột đậu nành, bột mì và cám gạo được phân tích thành phần sinh hóa trước khi phối chế thức ăn (Bảng 1).

Các nguyên liệu khác gồm dầu mực, lecithin, premix khoáng-vitamin và gelatin (chất kết dính các nguyên liệu trong hỗn hợp thức ăn).

Trong công thức phối chế thức ăn, protein bột đậu nành được thay thế bằng protein bột rong bún hoặc protein bột rong mền ở các mức thay thế tăng dần là 20, 40 và 60%.

Trong đó, nghiệm thức đối chứng không chứa bột rong bún và rong mền.

Tất cả các nghiệm thức thức ăn được thiết lập có cùng hàm lượng protein (35%) và lipid (7%).

Các nguyên liệu được trộn đều, gia ẩm và được ép qua máy ép thủ công thành viên và phơi khô dưới ánh nắng mặt trời khoảng 3-4 giờ để đạt độ ẩm 10-11%.

Thức ăn thí nghiệm được bảo quản trong tủ lạnh để sử dụng trong suốt thời gian thí nghiệm.

Thành phần sinh hóa cơ bản (ẩm độ, protein, lipid, tro, xơ và carbohydrate) của thức ăn thí nghiệm được phân tích (Bảng 2) theo phương pháp AOAC (1995).

Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm gồm 7 nghiệm thức thức ăn, được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên, mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần.

Nghiệm thức đối chứng không chứa protein bột rong bún và rong mền, 6 nghiệm thức còn lại protein bột đậu nành được thay thế bằng protein rong bún hoặc protein bột rong mền theo các mức tăng dần 20%, 40% và 60% (Bảng 2).

Hệ thống thí nghiệm và quản lý: Hệ thống thí nghiệm được bố trí bên ngoài, phía trên được che bằng lưới giảm sáng.

Thể tích bể nuôi 100 lít với thể tích nước là 70 lít.

Tôm thẻ post 12 được thuần dưỡng 4 ngày trước khi bố trí thí nghiệm, chọn tôm khỏe và đồng kích cỡ với khối lượng trung bình là 0,012 g được nuôi ở độ mặn 10‰ và mật độ là 30 con/bể và sục khí liên tục.

Tôm được cho ăn theo nhu cầu, cho ăn 4 lần/ngày vào lúc 6h, 11h, 16h và 21h.

Sử dụng sàn ăn cho tôm ăn, sau khoảng 1h kiểm tra sàn ăn để điều chỉnh lượng thức ăn cho tôm đảm bảo tôm ăn thỏa mãn.

Chế độ thay nước là 5-7 ngày thay 1 lần, mỗi lần thay 30-50% lượng nước trong bể.

Kết quả nghiên cứu

Các yếu tố môi trường

Bảng 3 biểu thị các yếu tố môi trường trong bể nuôi.

Nhiệt độ và pH giữa buổi sáng và buổi chiều trong quá trình thí nghiệm ít biến động và tương tự giữa các nghiệm thức, dao động trung bình lần lượt là 27,4-30,2 oC và 7,5-8,3.

Biến động độ kiềm giữa các nghiệm thức từ 94-109 mg CaCO3/L.

Các yếu tố này đều nằm trong khoảng thích hợp cho sự phát triển của tôm thẻ chân trắng (Trần Viết Mỹ, 2009).

Trong thời gian thí nghiệm cho thấy hàm lượng TAN và NO2- trong bể nuôi tăng theo thời gian nuôi và không khác nhau nhiều giữa các nghiệm thức, biến động trung bình lần lượt trong khoảng 0,17-0,18 và 1,94-2,23 mg/L.

Nghiên cứu của Schuler et al.

(2010), về ảnh hưởng kết hợp của độc tính của TAN và NO2ˉ đối với hậu ấu trùng tôm thẻ chân trắng (từ PL25- PL45) ở độ mặn 10‰, nhiệt độ 28oC, và pH là 7,8.

Kết quả cho thấy giá trị 48 giờ LC50 đối với TAN là 39,72 (2,09 mgNH3/L) và NO2- là 153,75 mg/L.

Trong thí nghiệm này, bể nuôi được thay nước 5-7 ngày/lần và mẫu nước được xác định trước khi thay nước do đó hàm lượng TAN và NO2- có thể không gây độc cho tôm thí nghiệm.

Tăng trưởng và tỉ lệ sống của tôm thẻ chân trắng sau 45 ngày nuôi

Tỉ lệ sống của tôm khi kết thúc thí nghiệm dao động trung bình từ 81,1 đến 87,8% (Bảng 4) và khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức (p>0,05).

Điều này cho thấy, hàm lượng protein rong bún và protein rong mền thay thế protein bột đậu nành đến 60% vẫn không làm ảnh hưởng đến tỉ lệ sống của tôm thí nghiệm.

Hình 1 cho biểu thị khối lượng của tôm thí nghiệm bị ảnh hưởng bởi nghiệm thức thức ăn được tìm thấy vào ngày nuôi 15 và khuynh hướng này duy trì đến khi kết thúc thí nghiệm.

Trong đó, tôm ở nghiệm thức thức ăn thay thế 20- 40% protein rong bún và 20% protein rong mền có khối lượng lớn hơn so với nhóm tôm ở nghiệm thức đối chứng.

Tuy nhiên, đối với nghiệm thức thay thế 40-60% protein rong mền và 60% protein rong bún, tôm có khối lượng nhỏ hơn đối chứng.

Tốc độ tăng trưởng của tôm thí nghiệm gồm tăng trưởng theo ngày (DWG) và tăng trưởng đặc biệt (SGR) có cùng khuynh hướng với khối lượng cuối.

DWG và SGR có giá trị cao nhất ở mức thay thế 20% protein bột đậu nành bằng protein rong bún hoặc rong mền (0,060-0,062 g/ngày và 11,84-11,93 %/ngày) và thấp nhất ở mức thay thế 60% (0,041-0,043 g/ngày và 11,03-11,14%/ngày).

Hai nghiệm thức còn lại với mức thay thế 40% tôm có tốc độ tăng trưởng tương đương so với nghiệm thức đối chứng.

Kết quả phân tích thống kê cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa (p>0,05) giữa nghiệm thức đối chứng so với tất cả các nghiệm thức thay thế bằng protein bột rong bún và rong mền ở các mức 20%, 40% và 60%.

Ngoài ra, ở cùng mức thay thế, thức ăn chứa bột rong bún cho tăng trưởng khá tốt hơn so với thức ăn chứa bột rong mền.

Kết quả trong nghiên cứu này tương tự với nghiên cứu của Silva and Barbosa (2009), đánh giá sự bổ sung rong đỏ (Hypnea cervicornis và Cryptonemia crenulata) với các mức 0, 13, 26 và 39% trong phối chế thức ăn cho tôm thẻ PL15 với thời gian thí nghiệm là 45 ngày.

Tác giả cho rằng bổ sung rong biển không ảnh hưởng đến tỉ lệ sống của tôm và đạt 92-97%.

Tương tự, khối lượng cuối, tăng trọng, tăng trưởng tương đối của tôm thẻ khác biệt không có ý nghĩa giữa các nghiệm thức.

Trong nghiên cứu này, thay thế 10% protein bột đậu nành bằng protein rong bún hoặc rong mền tương ứng với tỉ lệ bột rong bún và bột rong mền trong công thức thức ăn theo thứ tự là 8,51 và 8,26% đã cải thiện tăng trưởng của tôm cao hơn nhiều so với nghiệm thức thức ăn đối chứng.

Kết quả này phù hợp với các thông tin tổng quan về sử dụng rong biển làm thức ăn cho tôm của Cruz-Suarez et al. (2008).

Tác giả nhận thấy hầu hết các nghiên cứu sử dụng bột rong biển bổ sung với tỷ lệ thấp (thấp hơn 10%) trong khẩu phần ăn của tôm, tôm có tốc độ tăng trưởng nhanh và tỉ lệ sống cao hơn so với tôm ăn thức ăn đối chứng và chất lượng sản phẩm cũng được cải thiện như thịt tôm có sắc tố cao hơn và lượng cholesterol thấp hơn.

Hơn nữa, tác giả cũng tìm thấy tỉ lệ rong biển được bổ sung tối ưu tùy thuộc vào loài rong biển hay đối tượng sử dụng, ví dụ tốc độ tăng trưởng của tôm thẻ chân trắng (0,45 g) tốt hơn so với đối chứng khi bổ sung bột rong Macrocystis pyrifera vào thức ăn với tỉ lệ thấp 2-4%.

Đối với tôm Farfantanpenaeus carliforniensis, bổ sung 4% bột rong Sargassum được xem là thích hợp.

Nghiên cứu khác của Cruz-Suarez et al.(2009), so sánh sự bổ sung 3 loại rong gồm rong bún Ulva clathrata và hai loại rong nâu (Macrocystis pyrifera và Ascophyllum nodosum) với mức 33 g bột rong/kg thức ăn của tôm chân trắng (L. vannamei) có khối lượng trung bình 1,6 g/con trong 28 ngày.

Kết quả cho thấy nhóm tôm được cho ăn rong bún (U. clathrata) đã cải thiện chất lượng viên thức ăn, khả năng bắt mồi cao hơn, cải thiện hiệu quả sử dụng thức ăn, hiệu suất tăng trưởng tốt hơn so với hai loài rong nâu.

Tác giả cho rằng có thể rong bún có giá trị dinh dưỡng cao hơn hai loài rong nâu.

Nhiều nghiên cứu về thành phần dinh dưỡng của các loài rong bún đã tìm thấy rong bún chứa 18 loại acid amin và khoáng chất, cao hơn các loại rong khác, tỉ lệ giữa acid amin thiết yếu và không thiết yếu (EAA/NEAA) là 0,62.

Những acid amin thiết yếu chiếm khoảng 53% trong tổng hàm lượng acid amin.

Ngoài ra, rong bún rất giàu các acid béo thiết yếu mạch cao không no (Qing et al., 2006; Nguyễn Thị Ngọc Anh và ctv., 2013a).

Theo Manivannan et al. (2008), các loài rong Ulva, Enteromorpha rất giàu các vitamin và khoáng chất như Mg, Fe, Ca, K, Na, P, Zn.

Rong mền (Chladophoraceae) ở các thủy vực nước lợ ĐBSCL có giá trị dinh dưỡng khá cao: hàm lượng protein (8,35-18,71%), lipid (0,78- 2,91%), tro (18,14-32,22%), xơ (4,94-10,24%) và carbohydrat (34,50-55,27%).

Thành phần acid amin của rong mền gồm 10 loại acid amin thiết yếu, trong đó phenylalanine chiếm tỉ lệ cao nhất, kế đến là leucine và valine.

Đối với acid amin không thiết yếu thì acid glutamic và aspartic có hàm lượng cao nhất trong tổng acid amin (ITB-Vietnam, 2011).

Cả hai loài rong này có thể là thức ăn tốt cho một số loài tôm cá có tính ăn thiên về thực vật.

Hiệu quả sử dụng thức ăn

Lượng thức ăn ăn vào (FI), hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR) và hiệu quả sử dụng protein của tôm thí nghiệm được trình bày trong Bảng 5.

FI ở các nghiệm thức không khác nhau nhiều, dao động trung bình từ 70,5-75,1 mg/con/ngày.

FCR ở nghiệm thức thay thế 20% và 40% protein bột đậu nành bằng protein bột rong bún và rong mền (1,20-1,37) thấp hơn so với FCR ở nghiệm thức đối chứng (1,39).

Khi tăng mức thay thế đến 60%, FCR tăng cao hơn (1,68-1,78) so với đối chứng.

Tuy nhiên, sự khác biệt giữa các nghiệm thức thức ăn không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).

Đối với hiệu quả sử dụng protein (PER), khi hệ số tiêu tốn thức ăn giảm thấp thì PER sẽ tăng cao.

Do đó, hiệu quả sử dụng protein đạt cao nhất ở nghiệm thức 20%RB và đạt thấp nhất ở nghiệm thức 60%RM và dao động trung bình từ 1,60-2,39.

Tương tự như hệ số tiêu tốn thức ăn của tôm, hiệu quả sử dụng protein ở nghiệm thức đối chứng (2,08) thấp hơn so với nghiệm thức 20%RB, 40%RB, 20%RM và tương đương với nghiệm thức 40%RM. PER ở các nghiệm thức rong bún cao hơn so với rong mền.

Tuy nhiên, sự khác biệt này là không có ý nghĩa (p>0,05).

Theo một số kết quả nghiên cứu về hệ số tiêu tốn thức ăn và hiệu quả sử dụng protein của tôm cho thấy, các loại rong khác nhau sẽ cho hiệu quả sử dụng protein khác nhau.

Nghiên cứu của Penaflorida and Golez (1996), khi sử dụng rong biển làm thức ăn cho tôm sú Penaeus monodon cũng làm thay đổi hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR).

FCR của tôm giảm hơn 14% khi khẩu phần ăn chứa 10% rong câu Gracilaria heteroclada.

Tương tự, Cruz-Súarez et al. (2009) so sánh bổ sung 3 loại rong biển (rong bún Enteromorpha và 2 loại rong bẹ: Macrocystis và Ascophyllum) vào thức ăn tôm thẻ chân trắng với mức 3,3%.

Tác giả thu được hệ số thức ăn của nhóm tôm được bổ sung rong bún thấp hơn so với hai loại rong bẹ và thức ăn đối chứng.

Tuy nhiên, Silva and Barbosa (2009) nhận thấy bổ sung hai loại rong đỏ Hypnea cervicornis và Cryptonemia crenulatatrong khẩu phần ăn của tôm thẻ chân trắng với mức cao hơn (26% và 39%) thu được hệ số chuyển đổi thức ăn thấp hơn ở mức bổ sung 13% và thức ăn không bổ sung rong (nghiệm thức đối chứng).

Nghiên cứu của Cruz-Súarez et al. (2010) về thử nghiệm nuôi tôm thẻ 0,62g trong thời gian 28 ngày, sử dụng rong Macrocystis pyrifera ở mức 4 và 8% cho hiệu quả sử dụng protein (1,04-0,96) thấp hơn so với đối chứng (1,11).

Tuy nhiên, theo kết quả nghiên cứu của Gutierrez-Leyva (2006) khi bổ sung rong Macrocystis pyrifera ở các mức 1, 4, 7, 10% vào thức ăn của tôm 1,1g và nuôi trong thời gian 45 ngày, hiệu quả sử dụng thức ăn của tôm ở nghiệm thức đối chứng (1,5) lại thấp hơn so với các mức bổ sung (1,6-1,9).

Điều này có thể do hàm lượng dinh dưỡng cũng như các acid amin, vitamin và khoáng chất trong các loại rong có sự khác nhau.

Từ kết quả thí nghiệm này và các nghiên cứu trên cho thấy, khi thay thế protein bột đậu nành bằng protein bột rong bún và rong mền ở mức 20-40% có ảnh hưởng tốt đến tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của tôm thẻ chân trắng.

Bảng 5: Tổng lượng thức ăn ăn vào, hệ số tiêu tốn thức ăn và hiệu quả sử dụng protein của tôm thí nghiệm (% khối lượng khô)

Các giá trị trung bình trong cùng một cột có chữ cái khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05)

Kết luận

Tỉ lệ sống của tôm không bị ảnh hưởng bởi việc thay thế protein bột đậu nành bằng protein bột rong bún hoặc protein bột rong mền khi mức thay thế lên đến 60%.

Tốc độ tăng trưởng của tôm và hiệu quả sử dụng thức ăn được cải thiện khi thay thế protein bột đậu nành bằng protein bột rong bún hoặc protein bột rong mền ở mức 20% và 40%.

Tuy nhiên, không có sự khác biệt thống kê (p>0,05) giữa các nghiệm thức khi thay thế ở mức 60% mặc dù tôm có sự tăng trưởng kém hơn và hiệu quả sử dụng thấp hơn so với đối chứng. tag: tôm bệnh phân trắng

Từ các kết quả trên có thể kết luận rằng rong bún (Enteromorpha sp.) và rong mền (Cladophoracea) có thể sử dụng thay thế protein bột đậu nành ly trích dầu lên đến 40% trong thức ăn cho tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) giống.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/thay-the-protein-dau-nanh-bang-protein-rong-bun-va-rong-men-cho-tom-giong-33080.html

Muối hữu cơ giúp cải thiện hiệu quả tăng trưởng của tôm thẻ

Năm 2014, một nhóm nghiên cứu do Bruno dẫn đầu cho thấy khi bổ sung vào khẩu phần ăn của tôm 2 muối sodium butyrate và sodium propionate (đây là muối của 2 loại acid hữu cơ acid butyric và acid propionic) với các tỉ lệ khác nhau sẽ làm tăng thể trọng tôm, hiệu quả sử dụng thức ăn, khả năng hấp thu Nitơ, tỉ lệ hiệu quả Protein. tag: bệnh tôm chết sớm

Tỉ lệ sống và sản lượng thu hoạch cao hơn so với khẩu phần ăn bình thường.

Muối hữu cơ giúp cải thiện hiệu quả tăng trưởng của tôm thẻ

Lượng Vibrio sp. trong đường ruột cũng giảm đáng kể khi kết hợp cho ăn với 2 loại muối hữu cơ này.

Tăng cường khả năng phát triển: Khi bổ sung butyrate và propionate (0,5%, 1% và 2%) vào khẩu phần ăn của tôm thì kết quả cho thấy đều tăng thể trọng tôm.

Nhưng khi bổ sung 2% propionate vào khẩu phần ăn thì hiệu quả sử dụng thức ăn tăng rõ rệt, tỉ lệ sống tăng 4,3% so với khẩu phần ăn bình thường. Sản lượng thu hoạch cũng tăng từ 992 kg/ha lên 1127 kg/ha khi bổ sung 2% butyrate.

Một nghiên cứu khác của Nuez-Ortin (2011) cho thấy tăng 9% thể trọng tôm và 3% tỉ lệ sống khi bổ sung 0,1% sodium butyrate vào thức ăn.

Tăng khả năng hấp thụ Nito và protein: khi bổ sung 0,5% propionate thì tỉ lệ hấp thu Nitơ tăng 5%, còn khi bổ sung 2% butyrate thì tăng 8%.

Tỉ lệ hiệu quả Protein cũng tăng từ 1.05 lên 1.37 khi bổ sung 2% butyrate vào khẩu phần ăn.

Giảm lượng Vibrio sp. trong đường ruột:

Sau thời gian nuôi kết hợp với butyrate và propionate trong khẩu phần ăn, ruột tôm được tách biệt sau đó pha loãng rồi cấy lên môi trường đặc trưng để xác định lượng Vibrio sp. thì kết quả cho thấy lượng Vibrio sp. giảm rõ rệt so với ban đầu (từ 10^8 xuống 10^6 CFU/g sau 27 ngày nuôi).

Từ các kết quả nghiên cứu cho thấy tiềm năng ứng dụng của các muối hữu cơ cũng như các acid hữu cơ vào ngành nuôi trồng thủy sản là rất lớn.

Hiện nay trên thị trường cũng có nhiều loại sản phẩm chứa các gốc acid hữu cơ, bà con có thể cân nhắc để sử dụng có hiệu quả trong vụ nuôi của mình. tag: tôm bệnh phân trắng

Source:
1. Bruno C. d. S., Felipe N. V., José L. P. M.,Norha B., Walter Q. S. (2014), Butyrate and propionate improve the growth performance of Litopenaeus vannamei, Aquaculture Research, 1–12.
2. Nuez-Ortin W.G. (2011), Gustor-aqua: an effective solution to optimize health status and nutrient utilization. International Aquafeed, 18–20.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/muoi-huu-co-giup-cai-thien-hieu-qua-tang-truong-cua-tom-the-33081.html

Quản lý thức ăn khi nuôi tôm thẻ chân trắng

TTCT có nhu cầu đạm chỉ vào khoảng 32 – 35%, thấp hơn so mức 40 – 45% của tôm sú. tag: bệnh tôm chết sớm

TTCT có thể ăn liên tục trong ngày, ăn thức ăn lơ lửng và khi đói có thể ăn nhiều loại thức ăn tự nhiên như tảo, chất vẩn, huyền phù.

Quản lý thức ăn khi nuôi tôm thẻ chân trắng

Hàm lượng ôxy hòa tan, nhiệt độ cũng ảnh hưởng nhiều đến sức ăn của TTCT.

Một số hộ nuôi tôm đã thử nghiệm dùng thức ăn tôm sú để cho TTCT, nhất là trong thời điểm tháng cuối trước khi thu hoạch (thay cho thức ăn tăng trọng) cho thấy tốc độ tăng trưởng của tôm cao hơn, thời gian nuôi ngắn hơn.

Tuy nhiên, việc làm này đòi hỏi người nuôi có trình độ quản lý ao nuôi rất cao, nếu không môi trường ao nuôi dễ bị ô nhiễm, phát sinh nhiều khí độc… ảnh hưởng đến sức khỏe tôm.

Để quản lý tốt thức ăn, trong tháng nuôi đầu tiên, người nuôi nên cho ăn chia làm 4 – 5 cữ/ngày để giúp tôm dần làm quen với môi trường nuôi mới.

Xem bảng tham khảo cách cho ăn trong tháng đầu nuôi cho 100.000 con tôm:

Từ tháng thứ 2 trở đi có thể cho tôm ăn 3 – 4 cữ/ngày, lượng thức ăn cho tôm hàng ngày có thể dựa vào tổng trọng lượng đàn tôm bằng cách chài, đánh giá trọng lượng trung bình của một con tôm, ước lượng tỷ lệ sống và tính được trọng lượng bình quân của đàn tôm hiện có.

Chú ý, không nên cho tôm ăn vào ban đêm nếu như hệ thống quạt nước, sục khí không đáp ứng đủ nhu cầu ôxy cho tôm.

Một số tình huống cần giám sát chặt chẽ để cho tôm ăn đúng nhu cầu:

Trong nuôi TTCT, việc kiểm tra sàn ăn để điều chỉnh lượng thức ăn cũng có nhiều khác biệt nhiều so tôm sú.

Nhiều trường hợp, khi cho ăn người nuôi tôm phải duy trì ít nhất 1 dàn quạt hoặc duy trì 50% công suất quạt nên việc đánh giá nhu cầu ăn qua sàng là thiếu chính xác.

Ngoài việc kiểm tra lượng thức ăn tôm qua sàng ăn (khoảng 2 giờ sau khi bỏ sàn ăn), người nuôi cần quan sát đường ruột tôm TTCT để xác định lượng thức ăn cho tôm có đủ hay không để tăng hay giảm lượng thức ăn cho lần kế tiếp. tag: tôm bệnh phân trắng

Trong điều kiện bình thường, tôm ăn thức ăn công nghiệp thì đường ruột có màu nâu đen, nhưng khi thiếu thức ăn tôm sẽ ăn mùn bã hữu cơ, phân của chính nó nên đường ruột có màu đen.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/quan-ly-thuc-an-khi-nuoi-tom-the-chan-trang-33082.html

Phòng bệnh đúng cách cho tôm thẻ chân trắng

Các biện pháp chung

– Hạn chế các tác động xấu từ môi trường ảnh hưởng đến sức khỏe của tôm như biến đổi của các yếu tố thủy lý, thủy hóa, sự gia tăng của mầm bệnh trong ao. tag: bệnh tôm chết sớm

– Ngăn ngừa các nguy cơ gây bệnh từ nguồn giống không đảm bảo, chất lượng nước cấp không đạt yêu cầu, quá trình xâm nhập của mầm bệnh từ bên ngoài do vệ sinh ao nuôi, trang trại chưa phù hợp…

Phòng bệnh đúng cách cho tôm thẻ chân trắng

– Xử lý triệt để và có trách nhiệm khi bệnh xảy ra: báo ngay đến cơ quan liên quan vấn đề bệnh để xử lý kịp thời, đúng cách.

– Phòng bệnh trong quá trình nuôi bao gồm: thực hiện tốt việc quản lý con giống, thức ăn, nguồn nước và theo dõi sức khỏe tôm nuôi.

Yếu tố phản ánh sức khỏe tôm

Cần theo dõi sức ăn của tôm, đây được xem là một trong những dấu hiệu thể hiện rõ nhất tình trạng sức khỏe của tôm

. Quan sát hoạt động của tôm trong ao, biểu hiện của tôm vào sàng ăn, các dấu hiệu cảm quan như tình trạng thức ăn trong ruột, các dấu hiệu bên ngoài khác…

Bên cạnh dó, theo dõi dấu hiệu lột xác để kiểm soát chặt chẽ độ kiềm của nước, đảm bảo chất lượng nước để tôm phát triển tốt: tăng trọng tối đa và hình thành vỏ mới sau mỗi lần lột xác, đồng thời tăng khối lượng, chất lượng tôm trước khi thu hoạch.

Vệ sinh trang trại nuôi: Không xả rác, xả nước thải sinh hoạt; Không nuôi gia súc, gia cầm trong khu vực nuôi;

Sử dụng lưới ngăn chim cò, súc vật. Dụng cụ, trang thiết bị sử dụng riêng biệt cho từng ao; Chú ý vệ sinh của công nhân, kỹ thuật lao động khi chăm sóc tôm, nhất là khi ao tôm có bệnh.

Sử dụng và quản lý thuốc, hóa chất hợp lý

Mô hình nuôi TTCT thâm canh phải áp dụng nghiêm ngặt các giải pháp quản lý việc sử dụng thuốc và hoá chất:

Chỉ sử dụng khi thật cần thiết, không lạm dụng; Chỉ sử dụng thuốc, hóa chất được phép; Cần bảo quản thuốc, hóa chất đúng cách; Ghi chép cẩn thận mọi thông tin liên quan đến việc sử dụng thuốc, hóa chất.

Chất thải và xử lý chất thải

Dụng cụ thu hoạch, cách thu hoạch cần chú ý lây nhiễm giữa các ao: sử dụng dụng cụ thu hoạch riêng rẽ cho từng ao hoặc vệ sinh kỹ (giặt sạch, phơi ráo) trước khi sử dụng tiếp cho ao khác.

Nước thải và chất lắng đọng phải được xử lý đạt yêu cầu trước khi thải ra ngoài môi trường xung quanh:

Nếu cần phải thải ngay, phải để lắng và xử lý bằng hóa chất diệt khuẩn hoặc có thể dùng cá (rô phi) thả nuôi trong ao xử lý nước thải, đây là phương pháp xử lý sinh học, sau một khoảng thời gian, kiểm tra các yếu tố môi trường đạt yêu cầu mới được thải ra môi trường ngoài.

Đối với bùn ao: Phải xử lý phù hợp bùn ao nuôi thủy sản sau thu hoạch bằng cách bùn được bơm, hoặc chở đến bãi xử lý chất thải cách xa khu vực nuôi.

Một số biện pháp phòng bệnh

Biện pháp chung:

– Chọn tôm giống sạch bệnh, đã qua kiểm dịch; Phòng tránh sự xâm nhập của virus vào ao bằng cách: làm tốt công tác tẩy dọn, vệ sinh trước và sau một vụ nuôi.

Hạn chế hoặc tiêu diệt các sinh vật trung gian (cua, còng, tôm hoang dã…) bằng các sản phẩm an toàn, sát trùng nước trước khi cấp vào ao nuôi.

– Thả nuôi tôm đúng theo lịch thời vụ nhằm tránh mùa mà bệnh thường xuất hiện. Khi bệnh đã xảy ra, cần dùng thuốc sát trùng với nồng độ cao:

Chlorine >70ppm diệt virus và sinh vật mang virus (tôm) trước khi thải ra môi trường để hạn chế sự lây lan trên diện rộng. Lập tức báo ngay cho cơ quan quản lý thủy sản để được hướng dẫn và xử lý dập dịch.

Dấu hiệu bệnh:

– Tôm thường bị bệnh và chết hàng loạt ở giai đoạn từ 25 đến 45 ngày. Khi chết bên ngoài ít có biểu hiện rõ ràng (tôm chết đẹp) hoặc màu sắc nhợt nhạt, ruột không có thức ăn, giải phẫu bên trong gan tụy bị teo. Loại vi khuẩn Vibrio Parahaemolyticus rất phổ biến trong môi trường nước lợ, mặn và trên tôm.

– Vi khuẩn Vibrio Parahaemolyticus xâm nhập vào ao nuôi theo một số con đường: Nguồn nước, tôm giống, thức ăn, đặc biệt là thức ăn tươi sống và từ đáy ao nếu công tác tẩy dọn chưa tốt.

Áp dụng tổng hợp các biện pháp để hạn chế bệnh như sau:

– Định kỳ dùng chế phẩm vi sinh (Probiotic), giảm độ mặn nước ao nuôi xuống 15 – 20‰, quản lý tốt hệ phiêu sinh trong ao tức quản lý tốt màu nước ao.

– Tránh lấy nước biển vào ao trong các ngày biến động do bão, gió mùa hay áp thấp nhiệt đới vì khi đó mật độ Vibrio rong nước biển ven bờ có thể tăng lên nhiều lần so với bình thường.

– Tăng cường hệ miễn dịch tự nhiên của tôm bằng quản lý môi trường tốt và bổ sung một số sản phẩm như Vitamin C, A, E… vào thức ăn. tag: tôm bệnh phân trắng

Nguyên nhân của bệnh Hoại tử gan tụy trên tôm (EMS/AHPNS) được xác định là do loài vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus nên việc kiểm tra mật độ vi khuẩn này trước khi thả tôm là hết sức cần thiết.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/phong-benh-dung-cach-cho-tom-the-chan-trang-33083.html

Sử dụng nước ngầm trong nuôi tôm thẻ chân trắng

Thực trạng này dẫn tới cạn kiệt nguồn nước ngầm và gây một số vấn đề trên tôm nuôi sau một thời gian trúng tôm ở vài vụ nuôi đầu. tag: bệnh tôm chết sớm

Tôm thẻ chân trắng Litopenaeus vannamei là loài rộng muối, có thể sống được ở độ mặn dao động từ 0 – 50‰, thích hợp nhất là từ 10 – 25‰.

Sử dụng nước ngầm trong nuôi tôm thẻ chân trắng

Trên thực tế cho thấy rằng khi tôm thẻ chân trắng được nuôi ở độ mặn thấp (5 – 15‰) sẽ tăng trưởng nhanh hơn hơn độ mặn cao và ít bị hội chứng hoại tử gan tụy.

1.Các khoáng cần thiết cho sự phát triển của tôm

Ca và P là thành phần chính tạo nên lớp vỏ của tôm.

Ca cần thiết cho sự đông máu, các chức năng của cơ, sự truyền dẫn thần kinh, điều hòa áp suất thẩm thấu và là đồng nhân tố tác động trong hệ enzyme.

P là thành phần trong các phosphate hữu cơ như là các nucleotide phospholipid, coenzyme, ADN và ARN.

Na+, Cl- và K+ tham gia vào quá trình điều hòa áp suất thẩm thấu, hoạt động enzyme Na+/K+ ATPase trong tế bào.

Na+ có chức năng trong dẫn truyền xung động thần kinh cơ.

K+ có vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi chất của tôm.

Tôm thẻ chân trắng có biểu hiện biếng ăn, hoạt động kém, tăng trưởng chậm, thậm chí chết khi thiếu K+.

Mg rất quan trọng trong sự cân bằng bên trong và ngoài tế bào của tôm.

Mg tham gia vào quá trình hô hấp tế bào và những phản ứng truyền dẫn phosphate.

Mg là nhân tố kích hoạt cho tất cả các phản ứng trong quá trình trao đổi chất lipid, carbohydrate và protein.

2.Kim loại nặng, khí độc

Nhiều hộ nuôi sử dụng trực tiếp nước ngầm để pha với nước biển để giảm độ mặn hay sử dụng nước mặn ngầm để pha với nước ngọt tăng độ mặn.

Khi sử dụng nước ngầm để nuôi tôm sẽ có một số vấn đề sau: nước ngầm thường có hàm lượng DO thấp, khí H2S cao và hàm lượng ion Mn, Fe cao.

Trong môi trường có oxy thấp thì Mn và Fe thường ở dạng khử.

Nếu sử dụng nước ngầm trực tiếp, sự kết tủa của các muối kim loại có thể ảnh hưởng đến mang tôm, gây stress hoặc gây chết tôm.

Tuy nhiên, nếu được ngầm được xử lý, sau khi bơm, được sục khí mạnh cho bay hết khí độc, những kim loại Mn và Fe sẽ bị oxy hóa thành dạng phức đối với các chất oxy hóa, hydroxyl và carbonate.

Mn bị oxy hóa thành MnO2 và Fe thành Fe(OH)3 kết tủa, lúc này nước mới được xem là an toàn đối với tôm.

Hóa chất trung hòa hoạt tính ion kim loại nặng có thể cho vào nước để rút ngắn thời gian sử dụng nước ngầm, kết tủa kim loại nặng và làm cho chúng không độc hại là EDTA với liều lượng 5-10 mg/L thường được dùng để xử lý ion kim loại nặng, hoặc sử dụng máy tạo Ozone để khử kim loại nặng trước khi đưa vào sử dụng.

3.Sự cân bằng của ion K, Mg, Ca

Sự thiếu hụt về hàm lượng K và Mg trong nước ngầm có thể xảy ra và phải được điều chỉnh.

Mặt khác, sự khác biệt về thành phần ion trong nước ngầm và nước biển rất khác nhau, do đó cần cẩn thận khi sử dụng nước ngầm.

Trong nước biển tự nhiên, tỉ lệ Ca:Mg thường là 1:3,4 nhưng trong nước ngầm có thể lên đến 10:1.

Sự không cân bằng này có thể ảnh hưởng đến sự điều hòa thẩm thấu và là một trong những nguyên nhân gây ra hội chứng co cơ ở tôm.

Chúng ta nên nhớ rằng, thành phần và tỉ lệ ion trong nước quan trọng hơn độ mặn của nước.

Điều này thường thấy khi sử dụng muối ăn NaCl pha loãng thì không thích hợp cho nuôi tôm tại bất kỳ độ mặn nào.

Nếu độ mặn đủ, các ion Ca2+, Mg2+, K+ là rất quan trọng để cho tôm có thể sống được.

Trong những ion này có thể bị thiếu nhưng thiếu K+ là có thể ảnh hưởng nghiêm trọng hơn.

Tỉ lệ Ca:K trong nước biển là 1:1.

Đối với những ao nuôi có tỉ lệ Ca:K cao, việc bổ sung K vào trong nước để giảm tỉ lệ xuống là rất cần thiết.

Có thể sử dụng phân kali (MOP), KCl hoặc kali magnesium sulfate (K2SO4) để bón cho ao.

Về nguyên tắc, nước được xem thích hợp cho nuôi tôm thẻ là: độ mặn phải trên 0,5‰.

Hàm lượng Na+, Cl-, và K+ phải giống như nước biển pha loãng ở cùng độ mặn, tỉ lệ giữa Ca:K, Mg:Ca, Na:K phải không thay đổi so với nước biển tự nhiên, tỷ lệ N:K này là 28:1. tag: tôm bệnh phân trắng

Hàm lượng Ca cao và độ kiềm phải trên 75 mgCaCO3/L.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/su-dung-nuoc-ngam-trong-nuoi-tom-the-chan-trang-33429.html

Nuôi tôm thẻ chân trắng trải bạt nền đáy

1. Chuẩn bị ao

Ao được đầm nén kỹ bờ, trước khi lót bạt cần làm phẳng đáy ao, nền đáy nghiêng về cống thoát nước, đáy ao cần được phơi khô. tag: bệnh tôm chết sớm

Có thể dùng vải địa chống thấm (HDPE) hoặc bạt, các tấm được dán kín mép lại với nhau, trải lên toàn bộ nền đáy và bờ ao.

Nuôi tôm thẻ chân trắng trải bạt nền đáy

Khi trải bạt phải vuốt bạt áp sát nền đáy, cần lắp 3 – 4 ống thoát khí nối từ dưới nền đáy lên trên bờ, tránh hiện tượng khí tích tụ phía dưới, đẩy bạt phồng lên khi đưa nước vào ao nuôi.

Nếu đã trải bạt nuôi tôm từ vụ trước thì tháo róc nước, dùng máy bơm cao áp xịt rửa sạch các chất bám bẩn trên mặt bạt, sau đó dùng nước Chlorine 5% té đều lên mặt bạt, phơi bạt sau 5 ngày mới lấy nước vào ao.

2. Cấp nước, thả giống

Cấp nước: Nước được lấy vào ao lắng khử trùng bằng Chlorine liều lượng 30 ppm (30 kg/1.000 m3 nước) sau 10 ngày mới lấy nước vào ao qua túi lọc, độ sâu nước ao 1,4 m trở lên.

Tránh lấy nước vào ao lắng khi:

+ Có thông tin vùng dịch bệnh thải nước ra vùng nuôi

+ Nước thủy triều có hiện tượng phát sáng ban đêm

+ Nước có nhiều váng bọt, nhiều huyền phù lơ lửng+ Không lấy nước khi thủy triều đang lên

+ Kiểm tra độ mặn trước khi lấy nước.

Lắp đặt quạt khíHệ thống quạt nước có công dụng chính là tăng hàm lượng ôxy hòa tan trong nước, tạo dòng chảy kích thích tôm bắt mồi, đồng nhất chất lượng nước tại mọi điểm trong ao, gom chất thải vào giữa ao, thuận tiện cho việc xiphong đáy.

Số lượng quạt khí, tùy theo diện tích nuôi mà bố trí dàn quạt khí nhiều hay ít, thông thường với dàn quạt 15 – 17 cánh thì nên lắp 2 dàn, đảo chiều nhau, đảm bảo khi vận hành tạo dòng nước chảy theo một chiều.

Ao nuôi nên có diện tích 2.000 – 3.000 m2, hình chữ nhật (dài gấp 1,5 lần rộng), nếu ao hình vuông nên lắp 3 dàn.

Với diện tích nuôi 3.000 – 5.000 m2, cần lắp 4 – 6 dàn quạt.

Tôm giống: Chọn những nhà cung cấp có uy tín.

Tôm khi chuyển về phải được kiểm dịch và điều chỉnh độ mặn, pH giữa túi đựng tôm và ao nuôi, thả tôm lúc mát trời, cần cân bằng nhiệt độ trong ao và túi, tránh tôm bị sốc nhiệt, mật độ thả nuôi 120 – 150 con/m2.

3. Chăm sóc, quản lý

Thức ăn: Chọn thức ăn cho tôm được sản xuất bởi các hãng lớn.

Thức ăn phải cho ăn đúng khẩu phần, hàm lượng đạm phải phù hợp từng giai đoạn phát triển của tôm, luôn kiểm soát lượng thức ăn để điều chỉnh tránh thừa hoặc thiếu.

Không nên cho tôm ăn khi trời mưa vì có sự thay đổi nhiệt độ và độ mặn.

Trong suốt giai đoạn tôm lột xác, nên giảm lượng thức ăn và bổ sung thêm khoáng.

Định kỳ bắt tôm để quan sát: Nếu ruột tôm màu đen sẫm đó là biểu hiện thức ăn bị thiếu, tôm phải ăn thức ăn tự nhiên trong ao, do vậy cần tăng thêm lượng thức ăn cho tôm còn ruột tôm có màu nâu là thức ăn đầy đủ.

Dùng sàng ăn để kiểm tra mức độ ăn của tôm để điều chỉnh thức ăn cho kịp thời.

Duy trì độ sâu nước ao để ổn định nhiệt độ:

Sau khi thả tôm 10 ngày nên sử dụng chế phẩm sinh học làm sạch nước ao định kỳ 10 ngày/lần.

Sau 1 tháng nuôi, tiến hành xiphong đáy định kỳ 4 ngày/lần; khi xiphong đáy phải nhẹ nhàng, điều chỉnh van vừa phải, tránh tôm bị hút ra theo ống xiphong.

Kiểm soát các yếu tố môi trường:

Thường xuyên kiểm tra các yếu tố môi trường trong ao nuôi (như pH, độ kiềm, ôxy, độ mặn) để có biện pháp khắc phục kịp thời khi có sự cố môi trường, nên duy trì các yếu tố môi trường ở ngưỡng thích hợp cho tôm, pH: 7,5 – 8,5; độ kiềm: 80 – 120 mg/l, ôxy hòa tan: 4 mg/l trở lên, độ mặn 15 – 25‰.

Nếu pH thấp, độ kiềm nhỏ hơn 70: tạt vôi CaCO3 kết hợp Dolomite vào ban đêm.

Độ kiềm cao hơn 230: nên thay bớt nước, lấy nước đã qua xử lý từ ao lắng.

Nếu pH cao 8,8 – 9 kéo dài, nên thay bớt 20% lượng nước trong ao.

Duy trì độ trong 35 – 40 cm.

Màu nước duy trì ở màu xanh nõn chuối hoặc màu mận.

Trong tháng đầu thả tôm chỉ quạt khí về đêm, sang tháng nuôi thứ 2 trở đi cần vận hành quạt khí 24/24, nên sắm máy phát điện dự phòng khi mất điện.

Cùng đó, cần bổ sung chế phẩm sinh học vào ao nuôi định kỳ 10 ngày/lần, nhằm cân bằng hệ vi sinh vật trong ao, phân hủy lượng chất thải, giải phóng khí độc, ổn định môi trường trong ao nuôi.

Trộn chế phẩm sinh học vào thức ăn cho tôm, kích thích tiêu hóa giúp tôm lớn nhanh.

Phòng bệnh tôm:

Trong quá trình nuôi nên áp dụng biện pháp phòng bệnh tổng hợp, quản lý tốt các yếu tố môi trường. tag: tôm bệnh phân trắng

Ngăn chặn các loại cua cáy có thể mang mầm bệnh xâm nhập vùng nuôi; vệ sinh, khử trùng dụng cụ, bảo hộ lao động trước khi vào khu vực nuôi.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/nuoi-tom-the-chan-trang-trai-bat-nen-day-33556.html

Nhu cầu khoáng của tôm thẻ chân trắng

Tuy nhiên các chất kháng dinh dưỡng đặc biệt là phytate có trong nguyên liệu thực vật có khả năng liên kết chặc chẽ với các muối khoáng canxi, magiê, sắt và kẽm làm giảm độ tiêu hóa các khoáng chất gây thiếu khoáng cho tôm nuôi. tag: bệnh tôm chết sớm

Khoáng chất đóng vai trò quan trong thành phần dinh dưỡng của các loài động vật thủy sản, nhất là trong mô hình nuôi tôm thâm canh sử dụng thức ăn công nghiệp.

Nhu cầu khoáng của tôm thẻ chân trắng

Việc bổ sung các khoáng chất không những giúp cho tôm nuôi khỏe mạnh mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường khả năng miễn dịch.

PHÂN LOẠI:

Khoáng bao gồm các nguyên tố vô cơ cần thiết cho quá trình sinh trưởng và phát triển của tôm.

Căn cứ theo nhu cầu khoáng được chia làm 2 nhóm đa lượng và vi lượng:

Nhóm khoáng đa lượng bao gồm: Canxi (Ca), Magie (Mg), Photpho (P), Na (Natri), Kali (K), Chloride (Cl),…

Chức năng chung của các khoáng chất bao gồm các thành phần của bộ xương ngoài, cân bằng áp suất thẩm thấu, tham gia vào các thành phần cấu trúc của các mô, truyền xung động thần kinh và co cơ.

Khoáng chất đóng vai trò như thành phần thiết yếu cho các enzyme, vitamin, hormone, sắc tố, yếu tố đồng vận chuyển trong quá trình chuyển hóa, chất xúc tác, và hoạt hoá enzyme.

Tôm có thể hấp thụ hoặc bài tiết khoáng chất trực tiếp từ môi trường nước qua mang và bề mặt cơ thể.

Vì vậy, yêu cầu khoáng chất trong chế độ ăn phần lớn phụ thuộc vào nồng độ khoáng chất trong môi trường nước nuôi tôm.

* Canxi (Ca), photpho (P):

Đối với tôm Ca và P cần thiết cho quá trình hình thành vỏ kitin.

Ca còn tham gia vào quá trình động máu, co cơ, dẫn truyền thông tin thần kinh, duy trì áp suất thẩm thấu.

P còn có vai trò trong quá trình biến dưỡng các chất dinh dưỡng trong cơ thể, tham gia vào cấu trúc phosphate hữu cơ như: nucleotide, phospholipid, coenzyme, DNA, các acid nhân và tham gia trực tiếp vào các phản ứng tạo năng lượng của tế bào.

P vô là thành phần của hệ thống đệm, để duy trì pH dịch tế bào và ngoại tế bào P hầu như chỉ được lấy từ thức ăn đặc biệt trong mô hình nuôi thâm canh P là yếu tố cần được bổ sung vào thức ăn.

Dấu hiệu thiếu P là sinh trưởng chậm, hiệu quả sử dụng thức ăn và hàm lượng khoáng trong vỏ giảm.

Ngoài ra thiếu P cũng ảnh hưởng tới các thành phần khác trong cơ thể như tăng lượng lipid và giảm lượng nước.

Lượng P hấp thụ từ thức ăn thay đổi theo hàm lượng và trạng thái tồn tại của P có trong thức ăn.

Đồng thời sự hấp thụ P còn lệ thuộc vào hàm lượng Ca có trong thức ăn.

Sự gia tăng P trong thức ăn sẽ làm gia tăng mức độ tích luỹ Ca và P trong cơ thể cá.

* Magie (Mg): rất quan trọng trong sự cân bằng bên trong và ngoài tế bào của tôm.

Mg tham gia vào quá trình hô hấp tế bào và những phản ứng truyền dẫn phosphate.

Mg có vai trò quan trọng trongmột số hệ thống enzyme kích hoạt cho tất cả các phản ứng trong quá trình trao đổi chất lipid, carbohydrate và protein cung cấp năng lượng cho tôm. Nếu thiếu Mg tôm thẻ dễ bị đục cơ và cong thân, mềm vỏ, tình trạng này kéo dài ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và làm chết tôm.

Trong tự nhiên tôm có thể hấp thu lượng lớn khoáng từ nước biển như Ca, Na, Cl, và Mg.

Tuy nhiên ở điều kiện nuôi công nghiệp mật độ cao, độ mặn tương đối thấp hầu như không lấy được Ca, Mg từ môi trường nên thức ăn của những loại các này cần lưu ý vì hàm lượng Ca, P, Mg trong thức ăn thấp sẽ ảnh hưởng đến sự tăng trưởng làm cho tôm chậm lớn, tôm lột khó cứng vỏ, gây ra hiện tượng đục cơ và cong thân thường thấy trong quá trình nuôi tôm thẻ.

* Các khoáng đa lượng khác: Na+, Cl– và K+ tham gia vào quá trình điều hòa áp suất thẩm thấu, hoạt động enzyme Na+/K+ ATPase trong tế bào, cần bằng acid – bazơ, duy trì cấu trúc màng tế bào.

Na+ có chức năng trong dẫn truyền xung động thần kinh cơ dẫn truyền thần kinh.

K+ có vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi chất của tôm.

Tôm thẻ chân trắng có biểu hiện biếng ăn, hoạt động kém, tăng trưởng chậm, thậm chí chết khi thiếu K+.

Nhóm khoáng vi lượng bao gồm: nhôm (Al), Coban (Co), Chrom (Cr), đồng (Cu), Flo (F), Iod (I), Sắt (Fe), Mangan (Mn), Selenium (Se), Silic (Si), Niken (Ni), Kẽm (Zn),…

* Đồng (Cu )

Là thành phần nhiều enzyme có tính oxy hoá và có vai trò quan trọng trong sự hô hấp, cần thiết cho sự lột xác và tăng trưởng của tôm, là thành phần của sắc tố đen (Melanin), và hemocyanin trong máu tôm.

Thiếu Cu làm tôm sinh trưởng chậm, làm giảm hàm lượng Cu trong máu, gan tụy, tôm dễ nhiễm bệnh.

* Kem (Zn)

Kẽm là thành phần dinh dưỡng thiết yếu cần cho quá trình trao đổi chất bao gồm tăng trưởng, phát triển và miễn dịch không đặc hiệu của tôm, là thành phần cấu tạo enzyme Carbonicanhydrase (xúc tác phản ứng hydrat hoá) làm tăng khả năng vận chuyển CO2 và kích thích tiết HCl trong dạ dày.

Khi thiếu Zn tôm giảm bắt mồi, giảm tăng tưởng, mòn phụ bộ, còi, và giảm sức sinh sản, giảm sức sống.

* Mangan (Mn):

Mn là một thành phần cần thiết của một số enzyme như pyruvate carboxylase, lipase hay là thành phần cấu thành enzyme trong chuyển hóa protein, lipid và carbohydrate.

Sự hấp thu Mn từ môi trường nước rất thấp.

Sự thiếu hụt Mn làm giảm bắt mồi, giảm tăng trưởng, còi cọc, thân ngắn, đuôi bất thường, dễ bị dị hình, tăng tỷ lệ chết.

* Selenium (Se):

Se là khoáng chất cần thiết cho tôm.

Trong cơ thể Se và vitamin E tham gia vào quá trình trao đổi lipid.

Se có chức năng chống lại quá trình tự ôxy hóa của lipid màng tế bào, là thành phần chính trong cấu thành enzyme glutathione peroxidase (GSH).

Sự hấp thu Se từ môi trường nước rất thấp nên cần được cung cấp từ thức ăn, đặc biệt là thức ăn có hàm lượng lipid cao nhằm hạn chế quá trình ôxy hóa lipid trong thức ăn.

Sự thiếu hụt Se làm giảm glutathione, tăng stress, giảm tăng trưởng, tăng tỷ lệ chết.

* Coban (Co): Vì tôm không thể tự sản xuất vitamin B12 nên trong khẩu phần ăn cần bổ sung Co làm chất dinh dưỡng cần thiết cho các vi sinh vật hỗ trợ tổng hợp vitamin B12 cho tôm nuôi.

* Sắt (Fe):

Sắt là thành phần dinh dưỡng thiết yếu cần cho chứ năng của tất cả các cơ quan và mô trong cơ thể.

Nhìn chung nhóm khoáng vi lượng cần với lượng rất ít tuy nhiên lại có vai trò quan trọng trong cấu tạo các nhóm chức của enzyme, hormone, điều hoà quá trình sinh tổng hợp protein,… ảnh hưởng một cách rõ rệt đến các quá trình trao đổi chất, đặc biệt trong môi trường nuôi thâm canh, sự thay đổi môi trường, chất lượng nước cùng với các thực hành nuôi dẫn đến stress và có ảnh hưởng đến các quá trình sinh lý của cơ thể, làm thay đổi nhu cầu về khoáng vi lượng rất hữu ích cho việc giảm stress và tăng khả năng đề kháng bệnh của tôm nuôi.

Tuy nhiên khi hàm lượng khoáng vi lượng có khả năng gây độc hại như đồng, chì, cadmium, thủy ngân, asen, flo, selen, và vanadi cao cũng gây nguy hại cho sứ khỏe tôm nuôi như: giảm tăng trưởng, giảm hiệu quả sử dụng thức ăn, dị hình, tăng tỷ lệ chết,….

Bảng: Nhu cầu khoáng trong khẩu phần thức ăn của tôm (Cục Thủy Sản)

Nhóm khoáng đa lượng Nhu cầu của tôm (g/100g thức ăn)
Như <3.0
P 2,0
Ca / P
K 1,1
Na / Cl
Trong
Mg <0.3
Nhóm khoáng vi lượng Nhu cầu của tôm (mg/kg thức ăn)
Với 32
Đức tin <100
Zn 120
Mn 60
0,3
Tôi 6
Những gì 1
Cr 1

NHU CẦU KHOÁNG CỦA TÔM THẺ CHÂN TRẮNG

Nhu cầu khoáng của tôm thay đổi tùy theo dạng khoáng và độ hữu dụng sinh học của khoáng.

Khoáng hòa tan thường được hấp thụ cao nhất ở dạng các ion hòa tan, những hợp chất khác trao đổi điện tử với khoáng hình thành nên các hợp chất bền, ít tan sẽ khó được hấp thụ.

Tôm thẻ là loài có tốc độ tăng trưởng nhanh do tôm lột xác liên tục lại được nuôi theo mô hình thâm canh mật độ cao cho nên nhu cầu khoáng chất cũng rất cao.

Nếu trong ao có độ mặn thấp, hàm lượng Ca, Mg, P, Na… trong nước thấp, tôm hấp thụ khoáng không đủ đặc biệt trong quá trình sinh trưởng, tôm thẻ cần rất nhiều khoáng, do đó trong ao nuôi tôm thẻ nên luôn duy trì độ kiềm từ 100 mg/l trở lên bằng cách sử dụng vôi CaCO3. tag: tôm bệnh phân trắng

Bên cạnh đó, phải thường xuyên tạt khoáng cho ao nuôi để tôm cứng vỏ dễ lột xác, giúp tôm tăng trưởng nhanh, hạn chế hiện tượng đục cơ và cong thân, mềm vỏ.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/nhu-cau-khoang-cua-tom-the-chan-trang-33557.html

Quy trình nuôi tôm thẻ chân trắng

I. Chọn địa điểm xây dựng ao

Xây dựng ao nuôi ở vùng đã quy hoạch. Nền đất phải là đất thịt hoặc đất pha cát, ít mùn bã hữu cơ, có kết cấu chặt chẽ, giữ nước tốt, thuận tiện cho cấp và thoát nước. tag: bệnh tôm chết sớm

Chủ động nguồn nước cấp, không bị ô nhiễm nước. Thuận lợi giao thông, đủ điện cung cấp.

Quy trình nuôi tôm thẻ chân trắng

II. Xây dựng ao nuôi

1. Hệ thống ao nuôi bao gồm: Ao lắng (chiếm 20 – 25% diện tích), ao nuôi (chiếm 60 – 70% diện tích) và ao xử lý chất thải (10 – 15% diện tích).

2. Thiết kế ao ương: Tùy điều kiện từng hộ nuôi mà có thể thả nuôi trực tiếp hoặc thả ương trước khi đưa vào ao nuôi.

3. Thiết kế ao nuôi: Tùy diện tích đất mà thiết kế nhưng ao nuôi nên có diện tích 1.500 – 3.000 m2, bờ ao 2 – 2,5 m, mức nước 1,4 – 2 m.

Ao nuôi hình vuông hoặc chữ nhật, góc ao nên bo tròn. Rào lưới bao quanh để tránh các loài ký chủ trung gian gây bệnh. Đáy ao phẳng và nghiêng về cống thoát. Bờ ao nên lót bạt để chống xói lở, hạn chế rò rỉ.

III. Chuẩn bị ao nuôi

1. Cải tạo ao (ao nuôi, ao lắng):

– Bước 1: Tháo cạn nước ao nuôi và ao lắng, sên vét đáy ao, loại bỏ các địch hại. Gia cố bờ ao, lót bạt bờ ao (nếu có) để chống xói lở và hạn chế bị rò rỉ.

Rào lưới xung quanh để tránh các loài ký chủ trung gian gây bệnh từ bên ngoài. Tùy vào điều kiện, mật độ nuôi mà đáy ao có thể lót bạt nhằm hạn chế nước đục, nâng cao độ hòa tan của ôxy giúp tôm tăng trưởng tốt hơn.

– Bước 2: Bón vôi đá (CaO), tùy điều kiện pH đất mà bón.

Sau khi bón vôi đá, tùy chất đất mà có thể bón thêm vôi nông nghiệp (CaCO3) hoặc vôi Dolomite.

Có thể bổ sung khoáng vi lượng làm tăng độ kiềm đối với ao nuôi lâu năm, nghèo dinh dưỡng và dễ gây màu nước.

– Bước 3: Phơi đáy ao 5 – 7 ngày đến khi nứt chân chim thì lấy nước. Đối với những ao nuôi không phơi được: bơm cạn nước, dùng máy cào chất thải về góc cuối ao, bơm chất thải vào ao chứa thải, sau đó bón vôi với liều lượng như Bước 2. Sau đó phải cấp nước vào ao ngay hôm sau để tránh xì phèn.

– Đối với ao mới: Ngâm rửa đáy ao 2 – 3 lần rồi xử lý.

2. Lấy và xử lý nước

– Bước 1: Lấy nước vào ao lắng (qua túi lọc), lắng 3 – 5 ngày.

– Bước 2: Cấp nước từ ao lắng qua ao nuôi (qua túi lọc) đạt 1,3 – 1,4 m; chạy quạt liên tục 3 ngày cho trứng và giáp xác nở.

– Bước 3: Xử lý Chlorine nồng độ 30 ppm (30 kg/1.000 m3 nước) hoặc TCCA 20 ppm (20 kg/1.000 m3 nước) vào buổi tối để diệt tạp, diệt khuẩn.

– Bước 4: Xử lý EDTA liều 2 – 3 kg/1.000 m3 nước để khử kim loại nặng và độ cứng nước ao.

Chạy quạt liên tục trong thời gian xử lý nước để phân hủy dư lượng Chlorine có trong ao.

3. Gây màu nước

– Gây màu nước bằng mật đường + cám gạo + bột đậu nành (tỷ lệ 3:1:3) ủ trong 12 giờ. Liều lượng 3 kg/1.000 m3 nước ao, tạt liên tục 3 ngày vào 9 – 10 giờ sáng kết hợp với vôi Dolomite 10 – 15 kg/m3. Khi nước ao chuyển sang màu tảo khuê (vàng hay nâu nhạt) hay xanh vỏ đậu thì dùng 3 kg mật đường/100 m3 nước kết hợp cấy men vi sinh rồi thả giống.

– Đối với ao khó gây màu nước, hay màu nước không bền, nên bổ sung các thành phần khoáng, kết hợp sử dụng dây xích kéo đáy 2 lần/ngày.

– Kiểm tra và điều chỉnh các yếu tố môi trường trước khi thả tôm: pH 7,5 – 8,5 (dao động trong ngày không quá 0,5); độ kiềm: 120 – 180 mg/l; độ mặn 5 – 25‰ (tốt nhất > 5‰); độ trong 30 – 40 cm; NH3 < 0,1 mg/l; H2S < 0,03 mg/l; hàm lượng ôxy hòa tan > 5 mg/l.

Chạy quạt thường xuyên ban ngày nhằm kích thích tảo phát triển.

IV. Thiết kế quạt nước

Vị trí đặt cách bờ 1,5 m. Khoảng cách giữa hai cánh quạt 40 – 60 cm, lắp so le nhau.

Tùy theo hình dạng ao mà bố trí cánh quạt nước tạo được dòng chảy tốt nhất, nếu mật độ nuôi > 60 con/m2 cần lắp đặt thiết bị cung cấp ôxy đáy để đảm bảo đủ nhu cầu ôxy cho tôm nuôi.

Quản lý ôxy hòa tan. Hệ thống cung cấp ôxy cho tôm chủ yếu dùng cánh quạt nhựa và quạt lông nhím (quạt muỗng).

Trong ao nuôi nếu kết hợp được cả hai loại cánh này theo tỷ lệ 1:1 là tốt nhất vì tạo dòng chảy tốt để tạo vùng cho ăn và sinh hoạt sạch cho tôm, tăng khả năng cung cấp ôxy hòa tan.

V. Chọn giống

1. Chọn giống. Chọn con giống ở các cơ sở có uy tín, nguồn gốc rõ ràng. Có thể chọn bằng cảm quan hoặc qua xét nghiệm.

2. Thả giống. Thả ương với mật độ 600 – 1.000 con/m2. Mật độ thả nuôi: 30 – 80 con/m2. Chạy quạt trước khi thả giống khoảng 6 giờ để đảm bảo lượng ôxy hòa tan đạt 5 mg/l trở lên. Thuần tôm 30 phút rồi thả. Thả lúc sáng sớm hoặc chiều mát và theo hướng trên gió.

VI. Chăm sóc và quản lý

1. Cho ăn. Tùy điều kiện của từng hộ nuôi mà cho ăn theo phương pháp thủ công hoặc lắp đặt thiết bị máy cho ăn tự động nếu nuôi với mật độ cao.

Khi tôm 15 ngày tuổi, tiến hành đặt sàn ăn và khi tôm 25 ngày tuổi thì điều chỉnh lượng thức ăn thông qua thời gian ăn hết thức ăn trong sàn.

Cho 4 – 5 lần/ngày. 6h30: 25% thức ăn; 10h: 30% thức ăn; 14h: 30% thức ăn; 16h: 15% lượng thức ăn.

2. Quản lý môi trường ao nuôi

– Kiểm tra pH, độ trong 2 lần/ngày vào lúc 7h và 15h, kiểm tra độ kiềm, NH3 3 ngày/lần để điều chỉnh cho phù hợp.

– Trong quá trình sinh trưởng, tôm cần rất nhiều khoáng, do đó nên duy trì độ kiềm 120 mg/l trở lên bằng cách sử dụng vôi CaCO3 hoặc Dolomite và thường xuyên bổ sung khoáng cho ao nuôi vào ban đêm 3 – 5 ngày/lần giúp tôm nhanh cứng vỏ và lột xác đồng loạt.

– Định kỳ 7 – 10 ngày/lần cấy vi sinh để tăng cường mật độ vi khuẩn có lợi trong ao nuôi hoặc 7 – 10 ngày/lần diệt khuẩn ao nuôi kết hợp cấy men vi sinh trở lại sau 48 giờ.

Hạn chế lấy nước vào ao nuôi, khi cần thì lấy nước vào ao lắng rồi xử lý Chlorine liều 30 kg/1.000 m3 đến khi dư lượng Chlorine hết thì bơm vào ao nuôi (qua túi lọc), mỗi lần cấp khoảng 20% lượng nước ao nuôi, vào lúc trời mát.

3. Quản lý sức khỏe tôm nuôi

– Hằng ngày quan sát hoạt động bắt mồi và sức khỏe tôm trong ao, xem biểu hiện bên ngoài của tôm thông qua màu sắc, phụ bộ, thức ăn trong ruột… để có thể phát hiện sớm dấu hiệu bất thường.

– Sử dụng 2 sàn trở lên để kiểm tra sức khỏe tôm nuôi và điều chỉnh khẩu phần ăn cho hợp lý. Định kỳ 7 – 10 ngày chài tôm để xác định tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng, sức khỏe tôm cũng như trọng lượng, sản lượng tôm trong ao nhằm điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp.

Bổ sung Vitamin C, men tiêu hóa đường ruột, khoáng chất cần thiết và có thể bổ thêm nhóm dinh dưỡng hỗ trợ giải độc gan trộn cho tôm ăn hằng ngày. tag: tôm bệnh phân trắng

VII. Thu hoạch

Thời gian nuôi thường khoảng 90 ngày tuổi, tùy vào thời điểm giá cả thị trường, nhu cầu của người nuôi và chất lượng ao nuôi. Khi tôm ăn đạt trọng lượng 15 – 20 g/con thì thu hoạch.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/quy-trinh-nuoi-tom-the-chan-trang-34136.html